Hà Nội, Thứ Bảy Ngày 17/11/2018

Phương pháp tổng hợp xác định lượng nước tiêu thụ hộ gia đình

Mtđt, 10:27 12/02/2018

Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu xây dựng phương pháp xác định lượng nước tiêu thụ ở hộ gia đình (nước sử dụng trong nhà vệ sinh, nhà bếp, phòng tắm, giặt quần áo) ở Việt Nam.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp đo lường lượng nước sử dụng trực tiếp và phỏng vấn qua bảng hỏi đã được tiến hành ở các khu vực xung quanh của thành phố Hà Nội, Việt Nam. Nhóm nghiên cứu đã phân tích và đo lường chi tiết lượng nước dùng cho các mục đích sử dụng khác nhau trong nhà và tiến hành điều tra chi tiết về hành vi sử dụng nước. Một bảng câu hỏi được thiết kế trên máy tính bảng (Ipad) và đã chứng tỏ có hiệu quả về khả năng sử dụng và thu thập dữ liệu. Kết quả cho thấy việc kết hợp đo đạc trực tiếp qua các thiết bị đo đạc hiện đại và phù hợp, kết hợp với điều tra bằng câu hỏi là phương pháp tốt nhất để hiểu và xác định được việc sử dụng nước ở hộ gia đình. Kết quả đề tài là cơ sở quan trọng để xác định chính xác lượng nước sinh hoạt tiêu thụ thực tế, làm cơ sở cho công tác quy hoạch hạ tầng cấp thoát nước và quản lý tài nguyên nước.

Giới thiệu chung

Các tiếp cận tới người sử dụng, trong đó tổng lượng nước tiêu dùng của mỗi hộ gia đình được xác định theo các thành phần nướ tiêu thụ cho mỗi mục đích sử dụng khác nhau (ví dụ như nhà vệ sinh, nhà bếp, phòng tắm, giặt quần áo) được đưa vào sử dụng từ giữa những năm 1990 (Parker và Wilby 2013). Cách tiếp cận này làm sáng tỏ được việc tiêu thụ nước theo các hoạt động khác nhau, cho phép hỗ trợ lập kế hoạch cho các chương trình quản lý nhu cầu (demand management), như giảm giá nước, thay thế thiết bị dùng nước, và các ưu đãi khác để giảm nhu cầu tiêu thụ nước bình quân đầu người, và do đó có khả năng giúp trì hoãn các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng lớn (Mukheibir và cộng sự, , Kanakoudis 2002). Cách tiếp cận này cũng cho phép dự báo chất lượng và định lượng nước thải phát sinh (Butler 1993). Cơ sở dữ liệu về việc tiêu thụ nước ở hộ gia đình có ý nghĩa quan trọng đẻ xây dựng kế hoạch đầu tư các công trình cấp thoát nước, hạ tầng xử lý nước và nước thải, cũng như quản lý tài nguyên nước. Hiện nay việc xây dựng và sử dụng các cơ sở dữ liệu này chủ yếu ở các nước phát triển như Hoa Kỳ và Úc. Việc xác định lượng nước tiêu thụ ở hộ gia đình có thể được định lượng bằng cách sử dụng các phương pháp đo đạc lượng nước tiêu thụ trực tiếp hoặc bằng phương pháp gián tiếp. Các phương pháp đo đạc chủ yếu là phân tích lưu lượng dòng chảy nước và đo trực tiếp. Tổng lượng tiêu thụ nước hộ gia đình được xác đinh dựa trên các số liệu hình thái dòng chảy được ghi lại theo thời gian (AWWA 1999; Yamanishi và Manabe 2002; Edwards and Martin 1995). Phương pháp này cần sử dụng các máy đo thông minh có thể ghi dữ liệu thời gian theo thời gian và dễ lăp đặt, nhưng trước đây các thiết bị này rất đắt và khó hiệu chỉnh chính xác (Otaki, 2013). Thiết bị đo thông minh là công nghệ tiên tiến được sử dụng để ghi lại lượng nước tiêu thụ theo không gian và thời gian (ví dụ ở máy giặt và vòi hoa sen) và ngày nay nó đã trở thành một công nghệ hoàn thiện và hiệu quả , có chi phí phù hợp nên được áp dụng ngày càng rộng rãi ở các nước phát triển để thu thập, lưu trữ số liệu về lượng nước tiêu thụ thực tế theo thời gian(Hauber-Davis và Idris, 2006). Tuy nhiên, các nước đang phát triển gặp nhiều khó khăn để áp dụng thiết bị này trong việc xác định chính xác lượng nước tiêu vì: a) nhiều các nước này sử dụng nhiều nguồn nước khác nhau (ví dụ như nước máy, nước ngầm và nước mưa) để cấp nước cho ăn uống và sinh hoạt, trong nhiều trường hợp nước máy không chiếm toàn bộ lượng nước được tiêu thụ; b) việc cung cấp nước liên tục 24/24h còn hạn chế 24; c) người dân có thói quen chứa nước trong bể chưa hay két nước do việc cấp nươc không liên tục và áp lực không đảm bảo. Những nguyên nhân này làm việc phân loại sử dụng nước hộ gia đình từ hình thái dòng chảy của nước không thực hiện được hoặc không chính xác.


Về đo lường trực tiếp, Otaki và cộng sự đã phát triển một thiết bị đo lưu lượng nhỏ có thể gắn vào vòi nước để đo lượng nước sử dụng tại nhà (Otaki và cộng sự, 2008). Đồng hồ đo dòng chảy này cho phép xác định chính xác lượng nước sử dụng dù nước có thể được lưu trữ trong bể. Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi nhân công và chi phí tốn kém, khó triển khai được trên phạm vi rộng.

Các phương pháp khác, như bảng câu hỏi, phỏng vấn, sổ nhật ký cũng đã được áp dụng để ước lượng chi tiết lượng nước sinh hoạt tiêu thụ (Little 1996, Wutich 2009). Các loại khảo sát này có thể được sử dụng để thu thập mẫu lớn với chi phí tương đối thấp, nhưng kết quả có độ tinh cậy không cao nếu không được kiểm chứng với kết quả đo đạc trực tiếp. Ngoài ra, ở các nước đang phát triển, việc tiêu thụ nhiều nước thường gắn với đời sống cao, như một minh chứng cho sự giàu có nên thông tin từ phỏng vấn thường không phản ánh chính xác với hành vi thực tế. Do đó việc áp dụng tổng hợp các phương pháp được thực hiện. O'Toole et al. (2009) đã phân tích việc sử dụng cho mục đích vệ sinh, giặt là và ngoài trời bằng cách sử dụng hai công cụ thu thập dữ liệu: phỏng vấn qua điện thoại hỗ trợ (CATI) và nhật ký sử dụng 7 ngày. Nghiên cứu này nhằm mục đích phát triển một công cụ phù hợp để có thể xác định chính xác được lượng nước tiêu thụ ở hộ gia đình trong điều kiện việc sử dụng các thiết bị đo thông minh không thực hiện được.

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Quy trình nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu là các hoạt động sử dụng nước trong nhà. Từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2014, 56 hộ gia đình ở các khu vực khác nhau của thành phố Hà Nội được khảo sát và lấy mẫu. Các hộ gia đình này nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 5 đến 10 km. Phương pháp nghiên cứu kết hợp đo lường trực tiếp lượng nước sử dụng thực tế và khảo sát bảng câu hỏi. Bằng cách so sánh giá trị thực từ phép đo trực tiếp và giá trị ước lượng được tính từ bảng câu hỏi, kết quả cuối cùng cho thấy việc xác định lượng nước tiêu thụ hộ gia đình có thể ước lượng được hay không được.

2.2 Đo trực tiếp

Để xác định được lượng nước tiêu thụ cho mỗi lần sử dụng, đồng hồ đo lưu lượng nhỏ đã được thiết kế và lắp đặt trên mỗi vòi nước, máy giặt, phòng tắm và nhà bếp (Hình 1a). Tất cả các hộ gia đình đều sử dụng dạng xí bệt , vì vậy thiết bị đã được lắp đặt trong bồn vệ sinh để đếm số lần xả bằng cách cảm nhận sự thay đổi mực nước (Hình 1b). Thể tích nước mỗi lần xả cũng được đo riêng.

2.3 Khảo sát

Việc khảo sát được thực hiện qua bảng câu hỏi trên Ipad. Vì máy tính bảng có thể hiển thị hình ảnh và video nên nó có thể cung cấp thiết kế giao diện người dùng tốt hơn cho bảng câu hỏi. Vì máy tính bảng có thể lưu kết quả khảo sát dưới dạng dữ liệu điện tử ngay cả khi không có kết nối internet, nó rất phù hợp cho khảo sát hiện trường.

Hình 1: Thiết bị đo cho vòi bếp và vòi hoa sen

Bảng 1: câu hỏi phỏng vấn

Nhân khẩu học

Quy mô gia đình

Tuổi và giới tính của thành viên gia đình

Số người đi học hoặc đi làm

Nguồn nước (nước máy/nước giếng/nước ngầm/nước mưa)

Về các bữa ăn

Số người ăn ở nhà (ăn sáng/ trưa / tối) (ngày thường/ cuối tuần)

Trình đơn thông thường của mỗi bữa ăn (bữa sáng / trưa / tối)

Cách thức giặt đồ thức ăn (rau / thịt / cá / gạo) Cách rửa chén

Về tắm

1) Tần suất gội đầu (thường/mùa hè /mùa đông)

2) Tần suất tắm (thường/mùa hè /mùa đôn)

3) Cách sử dụng vòi hoa sen

4) Giới thiệu giặt quần áo

Từ kết quả khảo sát thực tế, số thành viên trong gia đình, số thành viên gia đình ăn ở nhà hàng ngày và số món ăn trong mỗi ngày được tính như sau:

Phome= ( Pf - Pab)+ Pf

Trong đó Phome: Số người trong gia đình ở nhà mỗi ngày; Pf: Số thành viên gia đình; Pab: Số thành viên gia đình đi làm hoặc đi học.

2.4 Tính toán và đối chiếu lượng nước tiêu thụ

Mức tiêu thụ nước đo bằng đo lường trực tiếp và mức tiêu thụ nước ước tính từ bảng câu hỏi được so sánh cho mỗi lần sử dụng cuối cùng. Nếu độ lệch nhỏ, có thể thay thế bảng câu hỏi để đo trực tiếp.

2.4.1 Nước tiêu thụ trong nhà vệ sinh

Tiêu thụ nước nhà vệ sinh thực tế có thể được tính như sau:

Ctoilet = Vf Nf

Trong đó: Ctoilet: Lượng nước tiêu thụ trong nhà vệ sinh; Vf : Khối lượng nước mỗi lần xả; Nf: Số lần xả của một người mỗi ngày

Các câu hỏi trực tiếp về việc sử dụng nhà vệ sinh bao gồm số lần sử dụng nhà vệ sinh ở nhà, số lần xả nước trung bình của một người, và lưu lượng một lần xả của nhà vệ sinh. Các câu hỏi gián tiếp có liên quan đến tiêu thụ nước nhà vệ sinh bao gồm quy mô gia đình, số người trong gia đình (Phome) và số người trong gia đình ăn ở nhà mỗi ngày (Peat).

2.4.2 Nước tiêu thụ cho việc giặt quần áo

Việc giặt quần áo thường được thực hiện bằng máy giặt hoặc bằng tay. Không thể đo được lượng nước dùng để giặt tay bởi vì mỗi hộ gia đình sử dụng các vòi khác nhau, ví dụ như bồn tắm, chậu rửa, hoặc vòi hoa sen, để giặt quần áo bằng tay. Đối với nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đo lượng nước sử dụng trong máy giặt, và lượng nước dựa trên mức tiêu thụ nước cho mỗi gia đình mỗi ngày, vì giặt quần áo được thực hiện cho cả gia đình.

Các hạng mục chính trong bảng câu hỏi, như các biến giải thích cho việc sử dụng nước máy rửa, là quy mô gia đình và tần suất giặt quần áo. Đối với câu hỏi này, Tần suất sử dụng máy giặt? Có các lựa chọn sau: một tuần 1 lần, một tuần 2 lần, các ngày khác, hang ngày, một ngày 1 lần, hoặc Không. Chúng tôi cũng hỏi cách giặt quần áo đã được thực hiện, chẳng hạn như rửa tay hoặc giặt bằng máy hoặc giặt là, theo loại quần áo (đồ lót, áo sơ mi, khăn tắm vv).

2.4.3 Nước tiêu thụ cho việc tắm

Khi tắm là một hành vi cá nhân, chúng tôi đã điều tra mức tiêu thụ nước mỗi người mỗi ngày. Tiêu thụ nước tắm có thể được tính như sau:

Cbath = Fs Ts

Trong đó Cbath: Lượng nước tắm tiêu thụ; Fs: Lưu lượng nước từ vòi hoa sen; Ts: Thời gian tắm

Các yếu tố chính trong bảng câu hỏi, như các biến giải thích cho việc sử dụng nước tắm là những thói quen và tần suất tắm (ví dụ, tần số gội đầu và tắm, và nước được phân phối thế nào) vì các yếu tố này đều liên quan đến thời gian tắm. Sự khác biệt theo mùa (tức là, thông thường, mùa nóng và mùa lạnh) cũng được đề cập.

2.4.4 Sử dụng nước trong nhà bếp

Vì việc sử dụng nước của nhà bếp thường được thực hiện cho cả gia đình, chúng tôi đã kiểm tra việc sử dụng nước nhà bếp cho mỗi gia đình mỗi ngày. Giả sử mức tiêu thụ nước sẽ khác nhau tùy thuộc vào số lượng bữa ăn, số người trong gia đình ăn ở nhà mỗi ngày (Peat) và số lượng món ăn được sử dụng mỗi ngày (D) có thể được xem như các biến giải thích. Cách thức làm sạch vật liệu thực phẩm (rau, thịt, cá và gạo) cũng được đề cập trong bảng khảo sát.

  1. Kết quả

3.1 Sử dụng nước cho nhà vệ sinh

Mức tiêu thụ trung bình là 21,7 L/người/ngày. Giá trị này là phù hợp với kết quả của Dữ liệu IBNET ước tính rằng người dân Việt Nam sử dụng 16 L/d/p (năm 2005).

Bảng 2 Hệ số tương quan giữa các biến số thành viên gia đình và số lần xả nhà vệ sinh (hệ số tương quan của Pearson * p <0,05, ** p <0,01)

Number of toilet flushes

Số người trong gia đình

Số người trong gia đình ăn ở nhà mỗi ngày

Số thành viên trong gia đình

0.456*

0.485**

0.611**

Hình 2. Mối quan hệ giữa lưu lượng nước xả và tần suất xả toilet trong hai trường hợp: a) xả chế độ lưu lượng lớn; và b) xả chế độ nhỏ

Hình 2 thể hiện các biểu đồ giữa thể tích nước của chế độ xả lớn và nhỏ. Đối với trường hợp không có thể độ xả lơn/nhỏ, lượng nước xả được phân loại là lớn. Hình 3 chỉ ra rằng lượng nước cho cả chế độ xả lớn và nhỏ có giá trị thống kê (kiểm tra Shapiro-Wilk W, p> 0,05). Với thực tế là chỉ có 28% số hộ gia đình biết lượng nước sử dụng để xả nhà vệ sinh nên không thể biết được khối lượng bồn vệ sinh từ bảng câu hỏi. Các kết quả này cho thấy tốt hơn nên ước tính sự phân bố của toàn bộ khu vực bằng cách lấy mẫu các hộ gia đình trong một khu vực nhất định và đo lượng nước mỗi lần xả nước trong nhà của họ. Chỉ mất khoảng 5 phút để đo lượng nước mỗi lần xả.

Bảng 2 cho thấy sự tương quan của số lần xả nhà vệ sinh với số người trong gia đình (Phome), số người trong gia đình ăn ở nhà mỗi ngày (Peat) và quy mô gia đình. Các kết quả chỉ ra rằng sự tương quan giữa số lần xả và quy mô gia đình là lớn nhất.

Điều này gợi ý rằng hợp lý để ước tính mức tiêu thụ nước nhà vệ sinh từ lượng nước đo được cho mỗi lần xả và quy mô gia đình, và những câu hỏi về việc sử dụng nhà vệ sinh nói riêng không cần thiết cho bảng câu hỏi.

3.2 Nước sử dụng cho việc giặt

Số lượng nước tiêu thụ khác nhau tùy thuộc vào loại máy giặt, kể cả máy giặt cửa trước hay cửa trên (Roberts 2005). Như hầu hết các hộ gia đình trong nghiên cứu này sử dụng một máy giặt cửa trên nên chúng tôi đã không xem xét sự khác biệt trong loại máy giặt. Mức tiêu thụ nước trung bình là 20,1 L/ngày-người (tổng số quần áo giặt) và 18,9 L/ngày-người (máy giặt). Giá trị này lớn hơn giá trị ước tính của cơ sở dữ liệu IBNET là 6 L/ngày-người (năm 2005). Nguyên nhân của việc gia tăng giá trị này có lẽ là tất cả các hộ điều tra đều có máy giặt, với tỷ lệ hộ nhà dân có máy giặt ở Hà Nội cao hơn các khu vực khác của Việt Nam. Về tần suất sử dụng máy giặt, 56% số hộ sử dụng hàng ngày, 26% số hộ sử dụng mỗi ngày một lần và chỉ có một vài hộ sử dụng hai lần một tuần hoặc hai lần một ngày.

Hình 3. Mối quan hệ giữa lượng nước giặt và số người trong gia đình

Không có mối quan hệ rõ rệt giữa tần suất giặt quần áo (điều tra bảng câu hỏi) và mức sử dụng nước máy của mỗi gia đình mỗi ngày (hệ số tương quan của Spearman: 0,3; p> 0,05). Ngoài ra, không có sự tương quan giữa mức tiêu thụ nước máy giặt (giá trị đo) và quy mô hộ gia đình (hệ số tương quan của Pearson = 0.238, p> 0.05), cho thấy rằng gia đình có nhiều thành viên trong gia đình không nhất thiết phải giặt nhiều hơn. Kết quả này không phù hợp với nghiên cứu của Roberts (2005) chỉ ra rằng số lần giặt quần áo mỗi tuần tăng lên cùng với quy mô hộ gia đình. Điều này một phần bởi vì 47% hộ gia đình được điều tra đã giặt quần áo như đồ lót, áo thun và khăn tắm - loại quần áo giặt ngày mỗi ngày - cả bằng tay và trong máy giặt.

Dựa trên các hộ gia đình đang sử dụng máy giặt được khảo sát, chúng tôi đã xác định được mối tương quan giữa lượng nước giặt đo được và quy mô gia đình ở Hình 4 (hệ số tương quan của Pearson = 0.517, p <0.05). Mặc dù chúng tôi không thể rút ra kết luận với những mẫu nhỏ như vậy nhưng những kết quả này cho thấy khả năng ước lượng mức tiêu thụ nước dựa trên quy mô gia đình cho các hộ gia đình đang giặt quần áo bằng máy giặt.

3.3 Nước tiêu thụ trong phòng tắm

Bảng 3. Khảo sát chế độ tắm

Gội đầu

Tắm

Hai lần một tuần

Hai ngày một lần

Hàng ngày

2%

9%

89%

0%

5%

95%

Hình 4. Mối quan hệ giữa lưu lượng vòi hoa sen và lượng nước sử dụng trong phòng tắm

Hình 4 cho thấy mối tương quan giữa lưu lượng của vòi hoa sen và nước sử dụng trong phòng tắm. Tuy nhiên, vì chỉ có hai hộ gia đình sử dụng hơn 30 L mỗi người mỗi ngày trong phòng tắm, cần có nhiều mẫu hơn cho các nghiên cứu tiếp theo. Mức tiêu thụ nước trung bình là 14,1 L/người-ngày. Giá trị này nhỏ hơn cơ sở dữ liệu IBNET ước tính là 38 L/người-ngày (năm 2005).

Về thói quen và tần suất tắm, như Bảng 3 cho thấy, khoảng 90% số hộ trả lời như nhau, nên không thể xác định được mối quan hệ giữa câu trả lời và mức tiêu thụ nước. Mặc dù sự khác nhau về tần suất gội đầu và tắm theo mùa được đề cập tuy nhiên không có sự khác biệt trong câu trả lời được đưa ra trong Bảng 5. Cuộc khảo sát cho thấy lưu lượng dòng chảy vòi hoa sen là cần để tính toán lượng nước sử dụng trong phòng tắm.

3.4 Tiêu thụ nước trong bếp

Hình 5. Mối quan hệ giữa số lượng món ăn trong ngày và lượng nước sử dụng trong bếp

Mức tiêu thụ nước trung bình là 31,2 L/người-ngày. Giá trị này phù hợp với ước tính của IBNET rằng người dân Việt Nam sử dụng L/người-ngày (năm 2005). Mặc dù máy rửa bát ngày nay phổ biến hơn, nhưng không ai trong số hộ gia đình khảo sát có sử dụng máy rửa bát. Hình 6 thể hiện số lượng các món ăn được phục vụ mỗi ngày với lượng nước sử dụng trong nhà bếp (hệ số tương quan r = 0.54), cho thấy cách tiếp cận này là tin cậy.

  1. Thảo luận

Nước tiêu thụ trong nhà bếp và nhà vệ sinh có thể được ước tính mà không cần đo trực tiếp. Tiêu thụ nước trong nhà bếp chỉ có thể được xác định bằng bảng câu hỏi, bằng cách hỏi người dân ăn loại thức ăn nào, và dẫn dắt câu hỏi dẫn đến các thông tin cần tìm. Richter and Stamminger (2012) đã chỉ ra tầm quan trọng của các món ăn và chỉ ra rửa bát là hoạt động quan trọng nhất trong bếp (tỷ lệ trung bình là 58%) qua việc đo lượng nước sử dụng trong bếp bằng webcam.

Ngược lại, bảng câu hỏi không phù hợp để xác định lượng nước tắm. Beal et al. (2013) cũng chỉ ra rằng việc tự mô tả hành vi tắm vòi sen thường không phản ánh chính xác việc tắm rửa thật sự. Tuy nhiên, việc xác định thể tích dòng chảy vòi hoa sen là khả thi. Cần có thêm nghiên cứu để so sánh giá trị đo trực tiếp và lưu lượng dòng chảy của vòi hoa sen.

Đối với hoạt động giặt quần áo, khảo sát bằng bảng câu hỏi cho thấy có hiệu quả nhất định để xác định lượng nước sử dụng. Tiêu thụ nước của các hộ gia đình sử dụng máy giặt cho tất cả các loại quần áo hàng ngày có thể được ước lượng bằng bảng câu hỏi. Tuy nhiên, vì giặt tay vẫn còn khá phổ biến, rất khó để ước lượng việc sử dụng nước để giặt quần áo bằng chỉ bằng phiếu điều tra.

Sự kết hợp giữa khảo sát bằng bảng hỏi, đo lưu lượng vòi hoa sen và thể tích bồn xả nhà vệ sinh cho thấy là phương pháp tốt nhất để hiểu được cơ chế sử dụng nước trong nhà. Việc phối hợp các phương pháp khác nhau cho phép giảm chi phí, nhân công và thời gian, cũng như tăng độ tin cậy kết quả xác định lượng nước sinh hoạt tiêu thụ.

Việc sử dụng cách tiếp cận ở hộ gia đình có ý nghĩa lớn trong công tác hỗ trợ quản lý nhu cầu dung nước. Nếu thông tin tiêu thụ nước ở hộ gia đình được sử dụng trong dự án phát triển cơ sở hạ tầng, thì công tác quy hoạch cấp thoát nước và phát triển tài nguyên nước được xây dựng cụ thể và chính xác hơn. Vì việc xác định lượng nước tiêu thụ hộ gia đình được xác định nhờ kết hợp của công nghệ đo và hành vi của người dùng, việc thay đổi một trong những yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến việc tiêu thụ nước cuối cùng (Mukheibir và cộng sự, 2013b).

  1. Kết luận

Trong nghiên cứu này, việc tiêu thụ nước hộ gia đình được xác định thông qua việc đo đạc chi tiết kết hợp điều tra về hành vi sử dụng nước ở các khu vực của thành phố Hà Nội. Việc sử dụng nước trong nhà bếp và trong nhà vệ sinh có thể được ước tính từ các bảng câu hỏi. Để tính lượng nước tiêu thụ trong nhà bếp, cần điều tra số lượng thành viên trong gia đình ăn ở và các loại thức ăn. Đối với việc sử dụng nước ở nhà vệ sinh, ngoài câu hỏi về quy mô gia đình, cần phải đo lượng nước cho mỗi lần xả. Do tần suất sử dụng nhà vệ sinh không thay đổi được nhưng sử dụng các thiết bị xí hiện đại cho phép giảm lượng nước xả mỗi lần sử dụng. Với hoạt động giặt quần áo, phương pháp đo trực tiếp lượng nước tiêu thụ là phù hợp nhất. Việc sử dụng nước cho máy giặt có thể được tính toán dựa trên quy mô gia đình chỉ khi gia đình sử dụng máy giặt để giặt quần áo hàng ngày. Trong nghiên cứu này chưa xây dựng được một phương pháp hiệu quả để tính toán lượng nước tiêu thụ trong nhà tắm, tuy nhiên việc ước tính lưu lượng vòi hoa sen giúp mang lại các thông tin tương đối chính xác. Cần lưu ý việc khảo sát phỏng vấn người dân sẽ không cung cấp được các thông tin thực tế nếu không kết hợp với số liệu đo trực tiếp.

Lời cám ơn: Nghiên cứu này được thực hiện trong khuôn khổ đề tài của quỹ Nafosted với mã số DT. NCCB-DDHUD. 2012-G/02. Đề tài cũng nhận được sự trợ giúp quý báu về thiết bị đo lưu lượng từ nhóm nghiên cứu của GS. Yurina Otaki (Trường Đại học Hitotsubashi, Nhật Bản) và GS. Masahiro Otaki (Trường Đại học Ochanomizu, Nhật Bản).

References

AWWA (1999) Residential end uses of water. AWWA Research Foundation and American Water Works Association, U.S.A.

Beal CD, Stewart R, Fielding K (2013) A novel mixed method smart metering approach to reconciling differences between perceived and actual residential end use water consumption. J Clean Prod 60:116–128

Butler D (1993) The influence of dwelling occupancy and day of the week on domestic appliance wastewater discharges. Build Environ 28(1):73–79


Edwards K, Martin L (1995) A methodology for surveying domestic water consumption. J Inst Water Environ Manage 9(5):477–488


Fielding KS, Spinks A, Russell S, McCrea R, Stewart R, Gardner J (2013) An experimental test of voluntary strategies to promote urban water demand management. J Environ Manag 114:343–351


Hauber-Davis G, Idris E (2006) Smart water metering. J Aust Water Assoc 33(3):56–59
Kanakoudis VK (2002) Urban water use conservation measures. J Water Supply Res Technol 51(3):153–163

Little A (1996) Bangkok water supply demand side management study. Metropolitan Waterworks Authority,

Bangkok
Liu A, Giurco D, Mukheibir P (2015) Motivating metrics for household water-use feedback. Resour Conserv

Recycl 103:29–46
Liu A, Giurco D, Mukheibir P (2016) Urban water conservation through customised water and end-use information. J Clean Prod 112:3164–3175
Mukheibir P, Boyle T, Mitchell C (2013a) End-use forecasting in the context of building adaptive water services.

Water Util J 6:29–39
Mukheibir P, Giurco D, Turner AJ, Franklin J, Teng ML, McClymont T (2013b) End-use demand forecasting: contemporary insights.

Water 40(3):76–80
O’Toole JE, Sinclair MI, Leder K (2009) Collecting household water usage data: telephone questionnaire or diary? BMC Med Res Methodol 9(72). doi:10.1186/1471-2288-9-72


Otaki Y, Otaki M, Bao PN, Nga TTV, Aramaki T (2008) Micro-components survey of residential indoor water consumption in Chiang Mai. Drink Water Eng Sci 1(1):17–25


Parker JM, Wilby RL (2013) Quantifying household water demand: a review of theory and practice in the UK.

Water Resour Manag 27:981–1011
Richter CP, Stamminger R (2012) Water consumption in the kitchen – a case study in four European countries.

Water Resour Manag 26:1639–1649
Roberts P (2005) Yarra Valley Water 2004 residential end use measurement study, Yarra Valley Water, Melbourne The International Benchmarking Network for Water and Sanitation Utilities (IBNET) (2005) Database, http://www.ib-net.org/ (accessed 2016.12)

Wutich A (2009) Estimating household water use: a comparison of diary, prompted recall, and free recall methods. Field Methods 21(1):49–68

Loading...
Bạn đang đọc bài viết Phương pháp tổng hợp xác định lượng nước tiêu thụ hộ gia đình tại chuyên mục Nhận định - Phân tích. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0913 385 005 - 0917 681 188 Hoặc email: bandientu.mtdt@gmail.com
Tin cùng chuyên mục Nhận định - Phân tích