Thứ tư, 01/12/2021 11:00 (GMT+7)

Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đối với phát triển kinh tế Việt Nam 2021

PGS.TS Nguyễn Đức Khiển -  Thứ hai, 29/03/2021 14:34 (GMT+7)

Năm 2020, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng của kinh tế toàn cầu, trong đó phải kể đến con số xuất siêu đạt kỷ lục trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp trên thế giới...

Kết quả đạt được này là minh chứng cho chủ trương đúng đắn của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế và chỉ đạo kịp thời của Chính phủ trong tăng cường thực hiện và khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do đã có hiệu lực.[1]

Việc thực thi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) mang đến nhiều cơ hội, cũng như thách thức mới.

CPTPP là hiệp định bao trọn một khu vực thị trường khoảng 490 triệu người, chiếm 13% GDP toàn cầu, với thu nhập bình quân đầu người trên 19.000 USD. Liên minh Châu Âu (EU) là thị trường có kim ngạch nhập khẩu đứng thứ 2 thế giới, chiếm gần 15% tổng nhập khẩu toàn cầu. RCEP được coi là hiệp định thương mại tự do có quy mô lớn nhất thế giới hiện nay.

Các FTA thế hệ mới là động lực giúp chúng ta hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch hơn; qua đó thúc đẩy đầu tư, giúp tạo ra năng lực sản xuất mới, tạo nguồn hàng cho xuất khẩu và góp phần vào tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hiệu quả. Bên cạnh đó, các FTA mới sẽ giúp doanh nghiệp có điều kiện thâm nhập, khai thác các thị trường mới, thị trường còn nhiều tiềm năng cho xuất khẩu của Việt Nam, qua đó cơ cấu thị trường xuất khẩu, thị trường nhập khẩu sẽ tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Đồng thời, các FTA cũng kỳ vọng là điều kiện quan trọng để nâng tầm trình độ phát triển của nền kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm dần việc gia công lắp ráp, tham gia vào các công đoạn sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn, từ đó bước sang giai đoạn phát triển các ngành điện tử, công nghệ cao, sản phẩm nông nghiệp xanh...

Chính vì vậy, Chính phủ và Bộ Công Thương đặc biệt quan tâm đến công tác triển khai thực hiện các FTA thế hệ mới. Mục tiêu là không chỉ hỗ trợ các cơ quan, tổ chức và công chúng nắm được nội dung cam kết tại các hiệp định này mà còn vận dụng và phát huy có hiệu quả ưu đãi của hiệp định, từ đó tận dụng tối đa các cơ hội và hạn chế tối thiểu các thách thức.

Ngay khi Hiệp định CPTPP và EVFTA có hiệu lực, Chính phủ đã ban hành kế hoạch hành động để thực thi.

Các bộ, ban, ngành và các tỉnh, thành phố cũng đã xây dựng kế hoạch thực hiện của mình để thực thi Hiệp định CPTPP và EVFTA. Theo đó, để giải quyết được những thách thức có thể xảy ra, Chính phủ tiến hành xây dựng một số nhóm nhiệm vụ quan trọng.

Thông qua các nhóm nhiệm vụ này, Việt Nam dần dần hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế, hỗ trợ cho doanh nghiệp đối mặt với rủi ro và thách thức khi các FTA thế hệ mới đi vào thực thi. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rõ, việc có thực sự vượt qua được thách thức và tận dụng tối đa cơ hội mà hiệp định mang lại hay không phụ thuộc rất nhiều vào quyết tâm của doanh nghiệp. Chính phủ chỉ có thể đưa ra công cụ, hỗ trợ về mặt thể chế phù hợp với cam kết, còn doanh nghiệp cần phải nắm rõ nội dung cam kết, nỗ lực cải tiến, thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ, đào tạo nhân sự, nâng cao năng lực để sẵn sàng cho những cuộc chơi lớn đầy khốc liệt.

Ảnh minh hoạ (Nguồn: Internet)

Doanh nghiệp Việt phải chủ động trong “sân chơi lớn”

Kết quả khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy, tỉ lệ doanh nghiệp Việt Nam hiểu và sẵn sàng tham gia vào các “sân chơi lớn” như Hiệp định CPTPP, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) là chỉ khoảng 20 - 30%. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây tỉ lệ này đã được cải thiện đáng kể.

Để tận dụng tối đa lợi thế từ các FTA, các doanh nghiệp cần chủ động nâng cao sức cạnh tranh để không chỉ giữ chỗ đứng tại thị trường nội địa mà còn tăng cường khả năng thâm nhập thị trường của các nước đối tác, thông qua mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư công nghệ nhằm nâng cao chất lượng hàng hoá và giảm giá thành sản phẩm.

Cụ thể, để mở rộng quy mô sản xuất, doanh nghiệp cần huy động sự đầu tư về vốn, nhân lực, công nghệ. Đặc biệt, đầu tư phát triển công nghệ phù hợp với khả năng sẽ là một trong những chìa khóa quan trọng giúp doanh nghiệp tăng năng suất và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong các yếu tố quan trọng tạo nên ưu thế cạnh tranh của sản phẩm. Chất lượng sản phẩm cũng cần gắn kết chặt chẽ với nghiên cứu thị trường và định hướng kinh doanh chiến lược của doanh nghiệp, từ đó xác định thị trường trọng điểm, mục tiêu, quy mô, tốc độ tăng trưởng, kênh phân phối, các vấn đề về luật pháp liên quan… nhằm phát huy tối đa lợi thế và nguồn lực của doanh nghiệp, phù hợp với giai đoạn hiện nay.

Tăng cường xúc tiến, quảng bá về sản phẩm trên thị trường nước ngoài cũng là một trong những giải pháp quan trọng giúp doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu. Doanh nghiệp Việt Nam cần có chiến lược dài hạn xây dựng thương hiệu về sản phẩm và doanh nghiệp nhằm tăng cường sự tham gia hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu. Doanh nghiệp nên xem xét, tích cực tận dụng các cơ hội mới mà thương mại điện tử và kỷ nguyên thương mại số mang lại nhằm giúp doanh nghiệp nắm bắt thời cơ, quảng bá và đẩy mạnh xuất khẩu.

“Trước tác động tiêu cực của dịch Covid-19 năm 2020 Ngân hàng Nhà nước và ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp tín dụng, chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi dịch. Năm 2021 ngành Ngân hàng sẽ nỗ lực để làm tốt hơn nữa công tác này”.[2]

(Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

Năm 2020, đại dịch Covid-19 tác động tới mọi mặt kinh tế - xã hội của hầu hết quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Covid-19 đã khiến mọi hoạt động thương mại, đầu tư du lịch, sản xuất kinh doanh bị đình trệ, tang trưởng GDP của Việt Nam năm 2020 chỉ đạt 2.91%, thấp nhất giai đoạn 2011 - 2020.

Trong năm, cả nước có 101.700 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường - đây là con số kỷ lục. Tuy vậy, nền kinh tế Việt Nam được các chuyên gia kinh tế đánh giá là có sức chống chịu khá cao và là một trong số ít các nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng GDP dương. Lạm phát mức dưới 4%.

Về phía ngành Ngân hàng, ảnh hưởng của dịch bệnh dẫn đến khách hàng khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn, dư nợ bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 là hơn 2,3 triệu tỉ đồng, chiếm khoảng 27% tổng dư nợ nền kinh tế. Do nhu cầu tín dụng của khách hàng sụt giảm nên tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp hơn so với các năm trước, 6 tháng đầu năm 2020 chỉ tăng 3,65% là mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020. Tuy vậy, từ tháng 7, khi dịch bệnh dần được kiểm soát, tín dụng dần phục hồi, hết năm 2020, tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế ước đạt trên 12% so với cuối năm 2019.

Đầu năm, Ngân hàng Nhà nước xây dựng chỉ tiêu định hướng tăng tín dụng năm 2020 khoảng 14%. Tuy vậy, dựa trên thực tế, chúng tôi đã thực hiện các giải pháp nhằm kiểm soát quy mô tín dụng phù hợp, đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng và kiểm soát lạm phát, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng: Ưu tiên chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức cao hơn đối với những tổ chức tín dụng giảm mạnh lãi suất cho vay, chất lượng tín dụng tốt hoặc tín dụng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên. Chúng tôi kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, tín dụng tiêu dùng và cho vay bằng ngoại tệ.

Năm 2021, dự báo sẽ có những tích cực như: Chính sách nới lỏng tiền tệ trên toàn cầu. Tại Việt Nam, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, lãi suất tiếp tục điều chỉnh giảm nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và kích thích sự phát triển nền kinh tế.

Dòng vốn rẻ và dòng tiền nhàn rỗi được hấp dẫn vào các kênh đầu tư và sản xuất. Hoạt động kiểm soát dịch hiệu quả giúp thu hút vốn đầu tư nước ngoài và giúp doanh nghiệp phục hồi hiệu quả hơn dẫn tới kỳ vọng tăng trưởng GDP tốt ở mức 6%-6,5% cho năm 2021.

Tuy nhiên, vẫn còn những điều tiêu cực cần thận trọng như dịch bệnh nhiều khả năng vẫn còn hoành hành và vaccine chưa kỳ vọng sẽ phổ biến đến toàn dân tại các quốc gia ít nhất hết quý II/2021.

Bên cạnh đó, diễn biến phức tạp của địa chính trị và thương mại toàn cầu sẽ ít nhiều ảnh hưởng tâm lý thị trường chung và ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, ảnh hưởng đến dòng vốn FDI vào Việt Nam…

Đối với ngành Ngân hàng, 3 vấn đề đáng quan tâm là: Rủi ro nợ xấu gia tăng do khó khăn của người vay vì tác động của dịch và thiên tai; quá trình tái cơ cấu của các tổ chức tín dụng để nâng cao năng lực tài chính bị chậm lại vì lợi nhuận suy giảm; hiệu quả tín dụng bị ảnh hưởng vì dòng vốn đầu tư đang có sự dịch chuyển quá nhanh tạo áp lực cho thị trường tín dụng.

Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành tín dụng theo hướng mở rộng tín dụng, tập trung vốn cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các dự án trọng điểm, hiệu quả, có sức lan tỏa; định hướng cơ cấu tín dụng phù hợp với chuyển dịch nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững. Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng. Tích cực phối hợp các bộ, ngành, địa phương triển khai các chương trình tín dụng đối với ngành, lĩnh vực.

Chỉ đạo các tổ chức tín dụng cân đối, tập trung vốn để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, chú trọng vào các lĩnh vực ưu tiên, dự án hiệu quả; kiểm soát rủi ro tín dụng, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng.

Chỉ đạo tổ chức tín dụng quyết liệt triển khai các giải pháp: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí theo Thông tư 01, đẩy mạnh cho vay mới để người dân, doanh nghiệp có nguồn vốn tiếp tục sản xuất, kinh doanh; phát triển các sản phẩm tín dụng đáp ứng nhu cầu hợp pháp của người dân; đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận và vay mới nhưng không nới lỏng điều kiện tín dụng, đảm bảo chất lượng, an toàn tín dụng, duy trì hoạt động lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Tạo điều kiện để Ngân hàng Chính sách Xã hội thực hiện tốt các chương trình tín dụng với hộ nghèo và các đối tượng chính sách.

Năm 2021, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố triển khai chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp để nắm bắt và kịp thời xử lý khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế sau dịch.

Việc triển khai các giải pháp trên của ngành Ngân hàng cần tiếp tục có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương trong việc tháo gỡ các vướng mắc nhằm tạo điều kiện cho sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, tạo sức cầu về tín dụng; qua đó tạo điều kiện để các giải pháp, chính sách tín dụng triển khai có hiệu quả, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2021.[2]

Tăng trưởng tín dụng quý I-2021 của Việt Nam được dự báo có thể tăng 1,5-2% so với cuối tháng 12-2020, cao hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ năm 2020, nhờ nền kinh tế tiếp tục phục hồi, các ngân hàng đưa ra chính sách ưu đãi lãi suất... Tuy nhiên, để đạt kế hoạch tăng trưởng tín dụng cho cả năm 2021 khoảng 12% không chỉ dựa trên cố gắng của từng ngân hàng, mà còn tùy thuộc vào diễn biến của dịch Covid-19.[3]

Kết quả lạc quan

Trong 3 năm liên tiếp, tăng trưởng tín dụng ở nước ta thường đạt mức thấp trong quý I. Cụ thể, năm 2018, tăng trưởng tín dụng quý I là 2,23%. Năm 2019, tăng trưởng tín dụng trong quý I đạt 1,9%. Năm 2020, trước tác động của dịch Covid-19, tăng trưởng tín dụng thấp kỷ lục, chỉ đạt 0,68%. Còn trong quý I-2021, theo Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) Nguyễn Tuấn Anh, tăng trưởng tín dụng ngân hàng có thể ở mức 1,5-2%. Đáng chú ý, dòng vốn được tập trung cho lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xây dựng, thương mại dịch vụ… Điều này phản ánh mức độ hồi phục rõ rệt của nền kinh tế từ nửa cuối năm 2020 đến nay.

Ở góc độ các ngân hàng thương mại, báo cáo của Công ty cổ phần Chứng khoán Vndirect cũng cho thấy tăng trưởng tín dụng khá tích cực. Chẳng hạn, Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu (ACB) dự báo tăng trưởng tín dụng quý I-2021 là 3,5%, cao hơn mức tăng 2,3% của cùng kỳ năm 2020.

Tương tự, Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh vượng (VPBank) dự báo tăng trưởng tín dụng 3,9% trong quý I-2021 (cùng kỳ năm 2020 là 1,3%). Đối với khối ngân hàng thương mại nhà nước, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank) dự kiến tăng trưởng tín dụng quý I-2021 lần lượt là 2,7% và 2,6%; trong khi cùng kỳ năm 2020 tăng trưởng tín dụng của hai ngân hàng này đều âm...

Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Đông (OCB) Nguyễn Đình Tùng cho biết, tăng trưởng tín dụng tích cực phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như ngân hàng thúc đẩy vốn hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, phân hóa khách hàng theo từng phân khúc để thiết kế sản phẩm, dịch vụ; đồng thời có sự nới lỏng các tiêu chuẩn tín dụng ở mức phù hợp. Dự kiến trong quý I-2021, OCB có thể đạt tăng trưởng tín dụng 3-4%.

Xây dựng kịch bản tăng trưởng tín dụng

Mặc dù kết quả tăng trưởng của quý I được dự báo khả quan, nhưng để có thể đạt được kế hoạch tăng trưởng tín dụng của cả năm 2021 không phải là việc dễ dàng. Trước diễn biến của dịch Covid-19, Ngân hàng Nhà nước đã xây dựng 3 kịch bản tăng trưởng tín dụng cho năm 2021. Kịch bản 1, nếu dịch Covid-19 tại Việt Nam dừng ngay trong quý I-2021 và tiêm chủng vắc xin đại trà, tăng trưởng tín dụng dự báo đạt 12-13%, tối đa có thể lên 14%. Kịch bản 2, dịch Covid-19 kéo dài đến tháng 6-2021 mới kết thúc, tín dụng có thể tăng khoảng 10-12%. Kịch bản 3, dịch Covid-19 kéo dài đến hết năm 2021, tín dụng tăng 7-8%. Đại diện Ngân hàng Nhà nước cho biết, trong thời gian chờ tính toán mục tiêu cả năm 2021, Ngân hàng Nhà nước tạm giao hạn mức tín dụng để các ngân hàng cho vay.

Đại diện các ngân hàng thương mại đều khẳng định, trong năm 2021, các ngân hàng đều "nới lỏng" tiêu chuẩn tín dụng đối với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như lĩnh vực ưu tiên... Đồng thời, các ngân hàng tiếp tục thực hiện giải pháp hỗ trợ như cơ cấu lại khoản nợ cũ để giúp doanh nghiệp được vay vốn tiếp.

Thách thức với Việt Nam trong ngắn hạn

Nói về thách thức trong ngắn hạn, ông Andrew Jeffries - Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam - cho biết, đại dịch Covid-19 chưa từng có tiền lệ trong lịch sử thế giới và tác động kinh tế của đại dịch cũng chưa bao giờ lại nặng nề như vậy. Tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19 thậm chí còn tồi tệ hơn cả đại khủng hoảng kinh tế năm 1930.

Theo dự báo cập nhật của ADB hồi tháng 9, nếu đại dịch được kiểm soát trong quý III/2020, tăng trưởng của các nước Đông Á sẽ giảm từ 5,4% trong năm 2019 xuống -0,7% trong năm 2020, trong đó Thái Lan được dự báo tăng trưởng -8%, và Malaysia -5 %, Philippines -7,3%, Indonesia -1%.

ADB dự báo tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2020 là 1,8%, mức tăng trưởng dương, và tương đối cao so với các nền kinh tế khác trong Châu Á. Tuy nhiên, đây là dự báo đầu tháng 9 và tình hình đại dịch vẫn đang diễn ra hết sức phức tạp, đặc biệt vào dịp mùa đông. Bất chấp những tác động nặng nề bởi đại dịch COVID-19, hầu hết dự báo kinh tế của các tổ chức quốc tế, trong đó có ADB, đều cho rằng, tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2021 sẽ phục hồi từ 6% đến 7%. ADB dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ ở mức 6,3% trong năm 2021.

Dự báo này căn cứ vào 4 yếu tố. Trước hết, nhu cầu bên ngoài đã và sẽ dần phục hồi vào năm 2021, có lợi cho một nền kinh tế có độ mở rộng như Việt Nam. Các đối tác thương mại lớn của Việt Nam đã và đang thích nghi dần trong sống chung với đại dịch, trong khi đang chờ đợi sự đột phá trong việc nghiên cứu và tìm kiếm vaccine. Việc đóng cửa toàn bộ nền kinh tế có thể sẽ không xảy ra như ở những tháng đầu năm 2020, do vậy, nhu cầu bên ngoài sẽ dần phục hồi, tạo điều kiện cho Việt Nam tăng cường xuất khẩu nhiều hơn nữa.

Động lực thúc đẩy kinh tế Việt Nam trong dài hạn

Bàn về triển vọng nền kinh tế Việt Nam trong dài hạn, các yếu tố như thị trường nội địa tiềm năng với gần 100 triệu người tiêu dùng, sự năng động của các doanh nghiệp Việt Nam.

“Nhưng có lẽ quan trọng nhất vẫn là tính hiệu quả của thế chế, bao gồm hệ thống pháp luật, bộ máy nhà nước cấp trung ương cũng như cấp địa phương và chất lượng đội ngũ cán bộ. Hiệu quả của thế chế là nền tảng cho các biện pháp khác để phát triển kinh tế. Nếu không có thể chế hiệu quả, thì không thể hỗ trợ tái cơ cấu kinh tế, không thể quản lý hiệu quả kinh tế nhà nước, và không thể phát triển được kinh tế tư nhân.

Khi thể chế được tăng cường theo hướng hỗ trợ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, sẽ tạo ra môi trường kinh doanh tốt để cho doanh nghiệp phát triển, tạo điều kiện cho áp dụng khoa học kỹ thuật từ đó nâng cao năng suất lao động và khuyên khích nhiều hơn nữa nguồn lực cho phát triển cơ sở hạ tầng” - ông Andrew Jeffries cho hay.

Để đạt được tăng trưởng 7% trong giai đoạn 2021-2030, đưa Việt Nam là nước thu nhập trung bình cao, ông Andrew Jeffries cho rằng, ưu tiên số một là nâng cao hiệu quả thể chế, từ đó sẽ có tác động lan tỏa sang mọi lĩnh vực, góp phần tăng trưởng bền vững. Thể chế hiệu quả sẽ giúp thu hẹp khoảng cách phát triển và tận dụng được tối đa các nguồn lực để ứng phó biến đối khí hậu.

Từ tháng 1.2019, Việt Nam đã chuyển từ vay ODA sang vay thương mại ưu đãi từ ADB. Hiện tại, cùng với các bộ ngành liên quan, ADB đang chuẩn bị chiến lược hoạt động từ năm 2021-2025. Chiến lược này sẽ tập trung hỗ trợ Việt Nam thực hiện các ưu tiên trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2021-2025, cũng như chiến lược 2021-2030.

Chiến lược 2021-2025 của ADB dự kiến sẽ được thông qua vào tháng 8.2021, và các ưu tiên dự kiến là phục hồi kinh tế sau đại dịch, phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng đô thị, hỗ trợ chống tác động của biến đổi khí hậu, xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới, giáo dục, y tế, chuyển đổi cơ cấu, đổi mới sáng tạo và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân.

Là đối tác tin cậy của Chính phủ và nhân dân Việt Nam, ADB sẽ luôn kề vai, sát cánh cùng Việt Nam vượt qua những khó khăn, thách thức để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam, đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân Việt Nam.

Phải chuẩn bị tất cả kịch bản

Theo đánh giá cho biết dịch Covid-19 không thể kết thúc trong năm 2021. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã yêu cầu người đứng đầu cấp ủy phải chịu trách nhiệm công tác phòng chống dịch bệnh và trực tiếp chỉ đạo công tác phòng chống dịch bệnh tại địa phương.

Đợt dịch lần này phức tạp vì vi-rút biến đổi, tốc độ lây nhanh hơn 70%. Đặc điểm dịch tễ học lần này là dịch trong khu công nghiệp tại Hải Dương. Số mắc ghi nhận rất cao, trung bình 20 ca mắc mới/ngày, trong khi đợt dịch tại Đà Nẵng năm 2020 là 15 ca/ngày. Xu hướng dịch tại Hải Dương hiện chưa rõ, trong khi Đà Nẵng sau 20 ngày đã thấy xu hướng giảm.

Tất cả các tỉnh không nên chủ quan, lơ là và nghĩ dịch không xảy ra trên tỉnh mình; phải chuẩn bị tất cả các phương án, kịch bản khi bùng phát dịch. Trong đó, phải có kịch bản cho cách ly và giãn cách, nếu không chủ động sẽ luống cuống, khó khăn khống chế dịch. F1 bắt buộc cách ly tập trung 14 ngày.
Bộ trưởng Bộ Y tế cũng đề nghị các tỉnh cần kiểm tra toàn tỉnh, sẵn sàng cơ sở nào có thể cách ly khi có dịch; lên kịch bản sẵn về tiếp nhận, cung cấp nhu yếu phẩm, theo dõi sức khỏe khi triển khai cách ly. Cách ly cần phối hợp chặt chẽ bên quân đội, để quân đội điều hành, vì cách ly trong dân sự chưa nghiêm nên có thể lây nhiễm chéo. Tất cả các địa phương cần có phương án lấy mẫu, xét nghiệm diện rộng; phải tập huấn nhân lực lấy mẫu, xét nghiệm và sẵn sàng trang thiết bị cho tình huống dịch bùng phát.

Cơ chế đặc biệt cho cấp phép nhập khẩu vắc xin Covid-19

Việt Nam sẽ có 60 triệu liều vắc xin Covid-19 trong năm 2021, từ nguồn COVAX và nhập khẩu. Bộ Y tế đang đàm phán với các công ty sản xuất để tiếp cận thêm nguồn cung cấp. Việc sử dụng, phân phối vắc xin chống dịch được tuân thủ theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới và pháp luật phòng chống bệnh truyền nhiễm của Việt Nam, trong đó ưu tiên khu vực có dịch và nguy cơ cao. Bộ Y tế sẽ có báo cáo Chính phủ cụ thể.

“Bộ Y tế cũng đang có cơ chế đặc biệt trong cấp phép và nhập khẩu vắc xin, chỉ trong vòng 5 ngày phải rà soát hồ sơ, lâm sàng, cho nhập khẩu theo cơ chế khẩn cấp. Bộ Y tế khuyến khích các đơn vị có nguồn vắc xin trao đổi với Bộ về nhập khẩu vắc xin cho người dân. Cố gắng trong năm 2021, người dân tiếp cận đầy đủ vắc xin”.

Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu!

Có thể nói, cùng với việc tham gia WTO từ năm 2007, việc thực thi các FTA đã góp phần thúc đẩy GDP của Việt Nam tăng hơn 300%, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 350% trong năm 2019 so với năm 2007 và tiếp tục duy trì tăng trưởng ở mức cao trong năm 2020.

Kết quả đạt được này là minh chứng cho chủ trương đúng đắn của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế và chỉ đạo kịp thời của Chính phủ trong tăng cường thực hiện và khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do đã có hiệu lực hướng tới đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng hiệu lực và hiệu quả.

Ngoài 11 FTA mà Việt Nam đang thực hiện trong vòng 20 năm trở lại đây, việc thực hiện 2 FTA thế hệ mới là CPTPP năm 2019 và EVFTA vào tháng 8.2020 và mới đây là Hiệp định RCEP, rồi chúng ta vừa kết thúc đàm phán Hiệp định UKVFTA để nhanh chóng ký kết, đưa hiệp định này vào thực thi… là bàn đạp để chúng ta đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng toàn diện với khu vực.

Theo tính toán, việc tham gia CPTPP sẽ giúp GDP của Việt Nam tăng thêm 1,7 tỉ USD, hơn 4 tỉ USD xuất khẩu, tăng tương ứng 1,32% và 4,04% đến năm 2035. Còn với EVFTA, trung bình mỗi năm Việt Nam sẽ tạo thêm khoảng 146.000 việc làm; GDP tăng thêm ở mức bình quân 7,07 đến 7,72% vào năm 2029-2033 và có thêm 0,8 triệu người thoát nghèo vào năm 2030.

Về tổng thể, việc thực thi các FTA sau 10 năm nữa dự kiến sẽ giúp Việt Nam tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đến năm 2045, dự kiến kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng vượt bậc so với hiện nay, khi đó, chủ trương về hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước vẫn cần được duy trì để bảo vệ và tiếp tục phát huy thành quả mà ta đã đạt được. Sau 10 và 25 năm nữa, với nền tảng hội nhập kinh tế hiện nay, tiếp tục chủ trương hội nhập đa phương sẽ giúp Việt Nam duy trì vai trò xác lập luật chơi trong khu vực, tập hợp lực lượng và ngày càng củng cố, nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Tài liệu tham khảo

1. Phạm Dung, “Việt Nam tự tin tiến vào sân chơi toàn cầu” (phỏng vấn Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh).

2. Lan Hương, phỏng vấn ông Đào Mạnh Tú - Phó Thống đốc NHNN Việt Nam.

3. Hà Linh, “Tăng trưởng tín dụng ngân hàng, tùy thuộc diễn biến dịch Covid-19”, HNM 25/3/2021.

4. Mỹ Văn, “Triển vọng Việt Nam dưới góc nhìn của giám đốc quốc gia ADB”, phỏng vấn ông Andren Jeffries - Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam

5. PGS.TS Nguyễn Đức Khiển, “Nỗ lực năm 2020 và triển vọng năm 2021”, Tạp chí Môi trường sức khỏe ISSN1859 - 0292.

PGS.TS Nguyễn Đức Khiển

Nguyên Giám đốc Sở KH-CN-MT Hà Nội

Bạn đang đọc bài viết Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đối với phát triển kinh tế Việt Nam 2021. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0912 345 014 Hoặc email: [email protected]

Cùng chuyên mục

Phát triển nông nghiệp theo hướng tới bền vững
Các chuỗi giá trị nông sản nói chung, mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo nói riêng được hình thành trên cơ sở chia sẻ thành quả và lợi ích giữa các bên tham gia, là chìa khóa mở cánh cửa hướng tới nền nông nghiệp hiện đại, bền vững.
Hà Nội : Hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá tiêu thụ sản phẩm
Tham gia Tuần hàng Việt thành phố Hà Nội năm 2021, các doanh nghiệp không chỉ quảng bá, giới thiệu sản phẩm đến người tiêu dùng mà còn tìm được nhiều đối tác để tiêu thụ sản phẩm, khắc phục khó khăn do tác động của dịch Covid-19.

Tin mới

Phát triển nông nghiệp theo hướng tới bền vững
Các chuỗi giá trị nông sản nói chung, mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo nói riêng được hình thành trên cơ sở chia sẻ thành quả và lợi ích giữa các bên tham gia, là chìa khóa mở cánh cửa hướng tới nền nông nghiệp hiện đại, bền vững.
Tác động của biến đổi khí hậu
Ngày 29/11, do mưa lớn liên tục kéo dài khiến nước lũ trên các sông An Lão, sông Kim Sơn, sông Hà Thanh, sông Kôn ở tỉnh Bình Định dâng cao, gây ngập lụt tại nhiều khu vực hạ lưu thuộc các huyện Hoài Ân, Tuy Phước, Phù Cát và TX. Hoài Nhơn.