Chủ nhật, 29/05/2022 00:16 (GMT+7)

Chính sách pháp luật của Việt Nam về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4

MTĐT -  Thứ bảy, 14/05/2022 09:05 (GMT+7)

Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để hoàn thiện chính sách, thúc đẩy sự phát triển của khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế và thích ứng với cuộc CMCN lần thứ 4.

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nghiên cứu nắm bắt, nâng cao năng lực tiếp cận và chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Một số văn bản quan trọng như sau:

Hệ thống pháp luật của Việt Nam 

Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để hoàn thiện chính sách, thúc đẩy sự phát triển của khoa học, công nghệ, hội nhập quốc tế và thích ứng với cuộc CMCN lần thứ 4, trong đó có Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật an toàn thông tin… cụ thể:

Luật Khoa học và Công nghệ

Luật thể hiện chính sách về phân chia lợi nhuận khi sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước. Điều 43 Luật KH&CN (sửa đổi) quy định: “Lợi nhuận thu được từ việc sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước được chia cho tác giả tối thiểu 30%; phần còn lại được phân chia giữa chủ sở hữu, cơ quan chủ trì, người môi giới theo quy định của Chính phủ”. Nội dung có thể coi là một bước tiến nhằm khuyến khích người làm công tác khoa học, tác giả công trình khoa học, tạo động lực cho các nhà nghiên cứu tập trung hoàn thành tốt nhiệm vụ nghiên cứu.

Đối với các nhà khoa học trẻ tài năng, Luật quy định được hưởng nhiều chính sách ưu đãi trong hoạt động nghiên cứu như:  Ưu tiên xét cấp học bổng để nâng cao trình độ ở trong nước, ngoài nước; Được thành lập nhóm nghiên cứu xuất sắc trong lĩnh vực chuyên môn của mình và được cấp hoặc hỗ trợ kinh phí cho hoạt động của nhóm này; Được giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN tiềm năng và được ưu tiên chủ trì, tham gia thực hiện nhiệm vụ KH&CN khác; Được hỗ trợ kinh phí tham gia hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế thuộc lĩnh vực chuyên môn. Ngoài ưu đãi cho cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH&CN, tổ chức, doanh nghiệp KH&CN được ưu đãi về chính sách thuế và tín dụng không thấp hơn so với những quy định hiện hành.

Luật thể hiện chính sách khuyến khích ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào sản xuất, đời sống, theo đó khi kết quả nghiên cứu được ứng dụng thì chủ nhiệm đề tài dự án và cơ quan chủ trì đề tài dự án thì sẽ được Nhà nước ưu tiên khi xét tuyển chọn, giao thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ với ngân sách nhà nước, ngoài ra còn được hưởng ưu đãi về thuế, tín dụng và các ưu đãi khác. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định trách nhiệm phổ biến kiến thức, truyền thông khoa học và công nghệ của tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện đề tài, dự án.

Đối với “Doanh nghiệp khoa học và công nghệ”, Luật quy định nhiều chính sách ưu đai như: được giao quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu kết quả khoa học và công nghệ thuộc sở hữu nhà nước; được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao kể từ khi có thu nhập chịu thuế theo quy định của Chính phủ; được miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà; được ưu tiên thuê đất, cơ sở hạ tầng trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao; được hưởng các chính sách ưu đãi về tín dụng đầu tư, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia và các quỹ khác để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh; được ưu tiên sử dụng trang thiết bị phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ của Nhà nước.

tm-img-alt
Ảnh minh hoạ. ITN

Luật Chuyển giao công nghệ

Luật có quy định về chính sách ưu tiên chuyển giao công nghệ để tạo ra các sản phẩm quốc gia, trọng điểm, chủ lực từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong nước; khuyến khích phát triển các công nghệ tạo ra và hoàn thiện sản phẩm quốc gia, trọng điểm, chủ lực có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước. Đồng thời Luật quy định cụ thể về công tác thẩm định công nghệ dự án đầu tư nhằm ngăn chặn, loại bỏ công nghệ, thiết bị lạc hậu chuyển giao vào Việt Nam, trong đó quy định cụ thể loại dự án phải thẩm định, lấy ý kiến về công nghệ; quy trình, thủ tục thẩm định, lấy ý kiến đối với từng loại dự án; quy định về việc kiểm tra, giám sát công nghệ trong các dự án đầu tư, chuyển giao công nghệ, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong kiểm tra, giám sát việc ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong dự án đầu tư.

Nhằm đẩy mạnh chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, tăng cường năng lực công nghệ trong nước, Luật mở rộng thêm các đối tượng được hưởng ưu đãi thuế so với các quy định ưu đãi thuế hiện hành, gồm: máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư, vật mẫu, công nghệ trong nước chưa tạo ra được nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động giải mã công nghệ; tài liệu, sách báo khoa học phục vụ hoạt động khởi nghiệp sáng tạo; cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức, cá nhân đầu tư và hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ có thu nhập từ hoạt động cung ứng dịch vụ chuyển giao công nghệ; tổ chức, cá nhân chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài; tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ, giải mã công nghệ tại doanh nghiệp; tổ chức, cá nhân chuyển giao công nghệ khuyến khích chuyển giao.

Luật Sở hữu trí tuệ

Một trong vấn đề quan trọng về chính sách trong CMCN lần thứ 4 là những quy định về quyền sở hữu công nghiệp. Theo đó, Luật Sở hữu trí tuệ đã có những quy định về vấn đề này. Theo đó, thời hạn thẩm định nội dung đối với đơn đăng ký sáng chế quy định là không quá 18 tháng; đối với đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu là không quá 9 tháng và không quá 7 tháng đối với kiểu dáng công nghiệp nhằm tránh tình trạng thẩm định sơ sài do không đủ thời gian thẩm định và gây hậu quả pháp lý, ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Về quy định quyền đăng ký nhãn hiệu tại Điều 87, Luật sở hữu trí tuệ, việc đăng ký nhãn hiệu tập thể đối với “địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam” thì phải được sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để Nhà nước có thể bảo vệ Doanh nghiệp trong khuôn khổ pháp luật.

Luật sở hữu trí tuệ quy định ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên, tuỳ theo trường hợp áp dụng, của một đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp hoặc sáng chế là ngày mà quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đó được xác lập, thay cho ngày công bố hiện đang được áp dụng (Điều 143.1 của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005), quy định này phù hợp với Điều 4B của Công ước Pa-ri về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, theo đó không một hành động nào của một bên thứ ba có thể gây tổn hại đến quyền của người nộp đơn trong thời gian ưu tiên.

Luật An ninh mạng

Cuộc CMCN lần thứ 4 cũng là thời điểm mà có sự bùng nổ về thông tin, đặc biệt là thông tin trên mạng internet. Điều này tác động lên xã hội trên cả mặt tích cực và tiêu cực, những nguy cơ tiềm ẩn đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước cần quản lý. 

Luật quy định Nghiêm cấm thông tin sai sự thật gây hoang mang trên mạng tại Điều 8, theo đó nghiêm cấm việc sử dụng không gian mạng để thực hiện các hành vi như: Tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục mua chuộc lừa gạt, lôi kéo người chống phá Nhà nước; Xuyên tạc lịch sử; Thông tin sai sự thật gây hoang mang; Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội; Sản xuất, đưa vào sử dụng phần mềm gây rối loạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet… Bên cạnh đó, hành vi lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích  hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi cũng là một hành vi bị nghiêm cấm.

Đối với hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, Khoản 3 Điều 26 của Luật yêu cầu doanh nghiệp trong nước và nước ngoài cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ.

Nghị quyết số 52/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN lần thứ tư (Nghị quyết số 52/NQ-TW) 

Nghị quyết khẳng định, cuộc CMCN 4.0 mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia, tổ chức và cá nhân; đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội đất nước. CMCN 4.0 yêu cầu phải đổi mới tư duy về quản lý kinh tế, quản lý xã hội, xây dựng, hoàn thiện thể chế cho phù hợp; cần có cách tiếp cận mở, sáng tạo, cho thí điểm đối với những vấn đề thực tiễn mới đặt ra, tạo mọi thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Trong Nghị quyết đã nhận định cơ sở hạ tầng viễn thông được xây dựng khá đồng bộ. Kinh tế số được hình thành, phát triển nhanh, ngày càng trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế; công nghệ số được áp dụng trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; xuất hiện ngày càng nhiều hình thức kinh doanh, dịch vụ mới, xuyên quốc gia, dựa trên nền tảng công nghệ số và Internet đang tạo nhiều cơ hội việc làm, thu nhập, tiện ích, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Việc xây dựng chính phủ điện tử, tiến tới chính phủ số được triển khai quyết liệt, bước đầu đạt được nhiều kết quả tích cực. 

Tuy vậy, mức độ chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta còn thấp. Thể chế, chính sách còn nhiều hạn chế và bất cập. Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực phát triển kinh tế - xã hội; hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia mới được hình thành, chưa đồng bộ và hiệu quả. Quá trình chuyển đổi số quốc gia còn chậm, thiếu chủ động do hạ tầng phục vụ quá trình chuyển đổi số còn nhiều hạn chế; nhiều doanh nghiệp còn bị động, năng lực tiếp cận, ứng dụng, phát triển công nghệ hiện đại còn thấp. Kinh tế số có quy mô còn nhỏ.

Nghị quyết đã nêu một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia Cuộc cách mạng CN 4.0, trong đó có các chính sách (1) Hoàn thiện thể chế tạo thuận lợi cho chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số quốc gia, (2) Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu, (3) Chính sách phát triển và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia, (4) Chính sách phát triển nguồn nhân lực, (5) Chính sách phát triển các ngành và công nghệ ưu tiên, (6) Chính sách hội nhập quốc tế. 

Liên quan đến phát triển tài sản trí tuệ, Nghị quyết nêu một số chủ trương chính sách như (1) Hoàn thiện pháp luật, trước hết là pháp luật về doanh nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo, sở hữu trí tuệ, thương mại, đầu tư, kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số quốc gia và phát triển các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế mới dựa trên nền tảng công nghệ số, Internet và không gian mạng; đồng thời ngăn chặn kịp thời các tác động tiêu cực cả về kinh tế và xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng. Có cơ chế cho doanh nghiệp nhà nước thực hiện đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ, đầu tư mạo hiểm, đầu tư vào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. (2) Xây dựng cơ chế quản lý phù hợp với môi trường kinh doanh số, tạo thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Sớm ban hành khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới hình thành từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; và đặc biệt là (3) Hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, bảo hộ và khai thác hiệu quả, hợp lý các tài sản trí tuệ do Việt Nam tạo ra; khuyến khích thương mại hoá và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là đối với các sáng chế tại Việt Nam trên cơ sở tuân thủ pháp luật trong nước và bảo đảm lợi ích an ninh quốc gia. Khuyến khích các công ty đa quốc gia đặt các cơ sở nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam.

Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị 

Nghị Quyết 50/NQ-CP xác định rõ các nội dung, nhiệm vụ chủ yếu cụ thể của Chính phủ và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trong đó giao Bộ Khoa học và công nghệ hoàn thiện các chính sách tài chính nhằm khuyến khích, huy động mọi nguồn lực xã hội đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo. Có cơ chế cho doanh nghiệp nhà nước thực hiện đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ, đầu tư mạo hiểm, đầu tư vào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, bảo hộ và khai thác hiệu quả, hợp lý các tài sản trí tuệ do Việt Nam tạo ra; khuyến khích thương mại hoá và chuyển giao công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là đối với các sáng chế tại Việt Nam trên cơ sở tuân thủ pháp luật trong nước và bảo đảm lợi ích an ninh quốc gia. Khuyến khích các công ty đa quốc gia đặt các cơ sở nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam.

Bộ Thông tin và Truyền thông được giao trách nhiệm chủ động tham gia vào các khuôn khổ pháp lý khu vực và toàn cầu để phát triển kinh tế số. Hoàn thiện pháp luật, chính sách về dữ liệu, quản trị dữ liệu, tạo thuận lợi cho việc tạo dựng, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng trong nước, tiến tới kết nối với khu vực ASEAN và quốc tế. Xây dựng hành lang pháp lý cho định danh số và xác thực điện tử quốc gia; thiết lập khung danh tính số quốc gia. Nghiên cứu, rà soát, hoàn thiện khung pháp lý về giao dịch điện tử. Xây dựng các cơ sở, hạ tầng kỹ thuật phục vụ công tác thử nghiệm sản phẩm, giải pháp trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông.

Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 3/6/2020 về Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030

Theo đó, Việt Nam phấn đấu đến năm 2025 phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan quản lý nhà nước, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân.

Một số ngành, lĩnh vực cần ưu tiên chuyển đổi số trước, trong đó, chú trọng tới việc triển khai các sáng kiến nhằm liên kết giữa các ngành, lĩnh vực để cung cấp một trải nghiệm mới, hoàn toàn khác, mang lại giá trị cho người dân, doanh nghiệp và xã hội gồm: Chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế,  trong lĩnh vực giáo dục, trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, trong lĩnh vực nông nghiệp, trong lĩnh vực giao thông vận tải và logistics, năng lượng, tài nguyên và môi trường, sản xuất công nghiệp.

Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 4/5/2017 về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. 

Chỉ thị số 16/CT-TTg tập trung vào 06 giải pháp cơ bản sau:

Một là, tập trung thúc đẩy phát triển, tạo sự bứt phá thực sự về hạ tầng, ứng dụng và nhân lực công nghệ thông tin - truyền thông. Phát triển hạ tầng kết nối số và bảo đảm an toàn, an ninh mạng tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp dễ dàng, bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội phát triển nội dung số.

Hai là, cải thiện môi trường cạnh tranh kinh doanh để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhanh chóng hấp thụ và phát triển được các công nghệ sản xuất mới. Các bộ, ngành cần khẩn trương triển khai xây dựng chính phủ điện tử; tiếp tục chủ động rà soát, bãi bỏ các điều kiện kinh doanh không còn phù hợp; sửa đổi các quy định quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo hướng đơn giản hóa và hiện đại hóa thủ tục hành chính.

Ba là, rà soát lại các chiến lược, chương trình hành động, đề xuất xây dựng kế hoạch và các nhiệm vụ trọng tâm để triển khai phù hợp với xu thế phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Xây dựng chiến lược chuyển đổi số, nền quản trị thông minh, ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ số, nông nghiệp thông minh, du lịch thông minh, đô thị thông minh. Rà soát, lựa chọn phát triển sản phẩm chủ lực, sản phẩm cạnh tranh chiến lược của quốc gia bám sát các công nghệ sản xuất mới, tích hợp những công nghệ mới để tập trung đầu tư phát triển.

Bốn là, tập trung thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia theo hướng xây dựng các cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp để phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo như: Có cơ chế tài chính thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của doanh nghiệp với tôn chỉ doanh nghiệp là trung tâm; đổi mới cơ chế đầu tư, tài trợ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; có chính sách để phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; kết nối cộng đồng khoa học và công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng trong nước.

Năm là, thay đổi mạnh mẽ các chính sách, nội dung, phương pháp giáo dục và dạy nghề nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận các xu thế công nghệ sản xuất mới, trong đó cần tập trung vào thúc đẩy đào tạo về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), ngoại ngữ, tin học trong chương trình giáo dục phổ thông; đẩy mạnh tự chủ đại học, dạy nghề; thí điểm quy định về đào tạo nghề, đào tạo đại học đối với một số ngành đặc thù. Biến thách thức dân số cùng giá trị dân số vàng thành lợi thế trong hội nhập và phân công lao động quốc tế.

Sáu là, nâng cao nhận thức của lãnh đạo các cấp, các ngành, các địa phương, doanh nghiệp và toàn xã hội về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Tăng cường hội nhập quốc tế và thông tin, truyền thông tạo hiểu biết và nhận thức đúng về bản chất, đặc trưng, các cơ hội và thách thức của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 để có cách tiếp cận, giải pháp phù hợp, hiệu quả.

Ngoài các văn bản trên, thời gian vừa qua Việt Nam đã ban hành nhiều Chiến lược, chương trình, kế hoạch liên quan đến cuộc CMCN lần thứ 4 như: Nghị quyết 23 về chiến lược phát triển công nghệ Việt Nam đến năm 2030, Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020, Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao, Chương trình quốc gia nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020, Đề án ứng dụng khoa học và công nghệ trong quá trình tái cơ cấu ngành công thương giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030…

TS. Lê Như Quân
Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường- Văn phòng Quốc hội
(Trích tham luận về "Thực trạng chính sách, pháp luật về 
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của Việt Nam" tại Hội thảo Quản lý chất thải rắn đô thị trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0)

Bạn đang đọc bài viết Chính sách pháp luật của Việt Nam về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0912 345 014 Hoặc email: [email protected]

Cùng chuyên mục

Chiến lược quản lý chất thải rắn ở Indonesia
Quản lý chất thải bền vững và vai trò của chất thải đối với các dự án năng lượng là rất quan trọng để thực hiện các chính sách và chiến lược quốc gia, từ đó đóng góp vào tầm nhìn chung của quốc gia về một nền kinh tế - xã hội xanh và bền vững hơn.
GIS - nền tảng thực hiện quy hoạch đô thị thông minh
Hệ thống cơ sở dữ liệu đô thị liên thông trên nền GIS là hệ thống được thiết kế, xây dựng để quản lý các cơ sở dữ liệu đô thị theo dạng các lớp bản đồ được tích hợp trên nền dữ liệu địa lý quốc gia trong hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia.

Tin mới

Tuần phim ASEAN 2022 chính thức khai mạc
Lễ Khai mạc Tuần phim ASEAN 2022 được tổ chức vào lúc 19h30, ngày 27/5 tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia, 87 Láng Hạ, Hà Nội với bộ phim “Mắt biếc” từng đoạt Bông Sen Vàng tại Liên hoan Phim Việt Nam lần thứ XXII.
Vỉa hè cho người đi bộ trên cao
Khoảng hai năm gần đây, vấn nạn “ùn tắc giao thông” của Đà Lạt luôn là một trong những đề tài làm hâm nóng các chương trình, nghị sự của tỉnh và thành phố; các chuyên gia cũng đưa ra một số giải pháp để chính quyền tham khảo trước khi quyết định.