Hà Nội, Thứ Tư Ngày 23/10/2019

Kỳ 2: Hệ thống chỉ tiêu và cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị

Mtđt, 08:47 15/08/2019

Trước yêu cầu của thực tiễn phát triển hiện nay, việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu và cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị là hết sức cần thiết.

Bởi hệ thống chỉ tiêu và cơ sở dữ liệu về quy hoạch là các thông số kỹ thuật nhằm thể hiện các mục tiêu, chiến lược, định hướng quy hoạch, tập hợp thông tin thể hiện nội dung cơ bản về quy hoạch được xây dựng, cập nhật, duy trì để quản lý nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý phát triển đô thị.

Tính tích hợp trong QHĐT

Hệ thống quy hoạch (QH) ở Việt Nam trước năm 2017 gồm 3 nhóm:

Nhóm I: QH tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, gồm: (i) QH tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ; (ii) QH phát triển ngành, lĩnh vực; (iii) QH sản phẩm.

Nhóm II: QHXD, gồm: (i) QHXD vùng, (ii) QHXD các khu chức năng đặc thù, (iii) QHĐT, (iv) QHXD nông thôn.

Nhóm III: QH sử dụng đất đai, tài nguyên khoảng sản và quy hoạch bảo vệ môi trường.

Hệ thống QH quốc gia (QHQG) được quy đinh tại Điều 5 Luật QH 2017 gồm: 1. QH cấp quốc gia (gồm: QH tổng thể quốc gia; QH không gian biển quốc gia; QH sử dụng đất quốc gia; QH ngành quốc gia); 2. QH vùng; 3. QH tỉnh; 4. QHĐT, QH nông thôn. 5. QH đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

(1) Hệ thống QHQG trước năm 2017 còn mang tính phân lập, thiếu sự phối hợp hài hòa và sự lồng ghép khách quan giữa các loại QH, nên không phát huy được tính khá thi, hiệu quả và tác dụng.

(2) Hệ thống QHQG được thiết lập theo Luật QH 2017 là tiền đề để xây dựng cơ chế phối hợp giữa các loại QH, tạo điều kiện để đổi mới thể chế QHĐT dựa trên cơ chế phối hợp, lồng ghép với các loại QH lãnh thổ và ngành.

(3) Luật QH ra đời đã quy định hủy bỏ quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội và hệ thống các QH ngành cấp vùng và tỉnh, giữ lại và có điều chỉnh hệ thống QH ngành cấp quốc gia gồm 39 ngành. Đây là cơ hội để nghiên cứu đổi mới công tác lập QHĐT, trong đó việc tích hợp đa ngành sẽ bao gồm (1) QHĐT đảm nhận nhiệm vụ của QH tổng thể kinh tế - xã hội, QH sử dụng đất và các QH ngành cấp địa phương và (2) QHĐT cụ thể hóa QH ngành quốc gia theo quy trình đổi mới, đảm bảo đánh giá được tổng hợp nhu cầu của các ngành, xác định được yếu tố nổi trội và lĩnh vực ưu tiên, tạo được cơ chế tham gia đa ngành để cùng nhau xây dựng mục tiêu, tầm nhìn, ý tưởng chung cũng như cam kết thực hiện của các bên liên quan.

(4) Các vấn đề cần giải quyết: Xây dựng cơ sở khoa học đổi mới thể chế và nội dung phương pháp lập QHĐT trong hệ thống QHQG; Làm chính xác vị trí, vai trò, chức năng và phạm vi giới hạn của QHĐT trong hệ thống đô thị quốc gia; Đổi mới nội dung, phương pháp, quy trình, sản phẩm, thiết kế QHĐT thống nhất; Đổi mới thể chế QHĐT theo hướng thích hợp, liên ngành trong lập, thẩm định, phê duyệt, thực hiện, đánh giá và điều chỉnh quy hoạch.

Hệ thống chỉ tiêu QHĐT

Chỉ tiêu quy hoạch là các thông số kỹ thuật nhằm thể hiện các mục tiêu, chiến lược, định hướng quy hoạch nhằm phục vụ cho công tác quản lý phát triển đô thị. Hệ thống các chỉ tiêu QH đã được quy định tại các Luật, nghị định, thông tư, quy chuẩn, tiêu chuẩn và được xác định trong hồ sơ đồ án QH (thuyết minh, bản vẽ, quy định quản lý theo đồ án quy hoạch…) và các công cụ quản lý đô thị khác như (thiết kế đô thị, quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc…). Các chỉ tiêu quy hoạch hiện nay đã đáp ứng phần nào nhu cầu quản lý phát triển đô thị. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế, cụ thể như sau:

(1) Chưa thực sự thống nhất giữa các quy định mang tính pháp quy (Luật, nghị định, thông tư, quy chuẩn, tiêu chuẩn…) về các chỉ tiêu QH (đặc biệt là các chỉ tiêu về sử dụng đất giữa các hệ thống luật khác nhau như: Luật Xây dựng, Luật QHĐT với Luật Đất đai...).

(2) Chức năng sử dụng đất đô thị không phải cố định mà luôn thay đổi để đảm bảo đạt được lợi ích kinh tế - xã hội cao nhất, bên cạnh đó chức năng sử dụng đất cũng không còn mang tính đơn nhất và có sự giao thoa các chức năng, tạo ra khái niệm đất hỗn hợp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về sử dụng mà không gây ra các tác động xấu trong bản thân việc tích hợp các chức năng sử dụng đất trong một lô, thửa cũng như cho cả khu vực. Tuy nhiên hiện nay khái niệm về đất hỗn hợp còn chưa rõ ràng và còn tạo ra nhiều kẽ hở trong công tác quản lý phát triển đô thị, dẫn đến các hậu quả về môi trường cũng như các vấn đề đô thị khác (ùn tắc, an toàn đô thị, quá tải hạ tầng…), trong khi đó lại vẫn có sự cứng nhắc trong công tác quản lý đô thị, không tạo ra sự linh hoạt trong việc chuyển đổi mục đích, chức năng sử dụng đất. Đồng thời việc quy định cứng các chỉ tiêu quy hoạch sẽ không tạo điều kiện cho sự phát triển đô thị.

(3) Chưa thống nhất về các chỉ tiêu sử dụng đất cho các mục đích quản lý khác nhau: giữa quản lý lập QH và quản lý phát triển đô thị, giữa QHĐT và phân loại đô thị… Chưa thực sự thống nhất về hệ thống chỉ tiêu QH tại các vùng miền, địa phương (khái niệm, số lượng, giá trị và phương pháp quản lý). Một số khái niệm chưa có định nghĩa rõ ràng dẫn đến việc cách hiểu chưa thống nhất giữa các ngành, địa phương (đất xây dựng đô thị, đất đơn vị ở, đất khu ở, đất ở, đất cây xanh và đất cây xanh sử dụng công cộng…). Một số khái niệm mặc dù chỉ có phạm vi áp dụng hạn chế theo cấp độ QH, tuy nhiên chưa có quy định cụ thể về phạm vi áp dụng nên dẫn đến việc tham chiếu, áp dụng sai: như khái niệm về đất đơn vị ở trung bình toàn đô thị… Bên cạnh đó là sự liên quan mật thiết giữa các chỉ tiêu sử dụng đất với mục đích sử dụng đất (ở, thương mại, dịch vụ, văn phòng… hay hỗn hợp nhiều mục đích sử dụng đất) cũng như cách thức quản lý không gian của khu đất (hệ số sử dụng đất, mật độ xây dựng, tầng cao - chiều cao xây dựng…) dẫn đến quy định không hoàn chỉnh sẽ tạo khe hở trong công tác quản lý hoặc dẫn đến những yêu cầu chồng chéo, mâu thuẫn.

(4) Thiếu các chỉ tiêu về ngưỡng phát triển (đô thị, phân vùng, dự án…), các chỉ tiêu nhằm xác định ranh giới phát triển, khu vực hạn chế, khu vực kiểm soát và ngưỡng chịu tải… Thiếu chỉ tiêu QH cho một số đối tượng như: khu vực phát triển cao tầng, siêu cao tầng, khu vực tái thiết, khu vực đô thị cũ, khu vực nông thôn đô thị hóa và các khu vực đặc biệt khác …). Thiếu các chỉ tiêu về công trình hạ tầng xã hội có tính phúc lợi công cộng (đảm bảo tiếp cận an toàn, dễ dàng về các mặt: giao thông, khả năng chi trả…), công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị (sử dụng chung kết cấu hạ tầng, xã hội hóa…). Đang có sự lẫn lộn giữa công trình hạ tầng xã hội và công trình hạ tầng xã hội có tính phúc lợi công cộng cũng như việc không tính đến sự phân bổ hợp lý theo không gian dẫn đến tình trạng tổng chỉ tiêu thừa nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu của các tầng lớp dân cư đô thị.

Cơ sở dữ liệu QHĐT

Thiếu dữ liệu cơ bản phục vụ công tác nghiên cứu lập QH và quản lý phát triển đô thị là một vấn đề lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng các đồ án QH hiện nay. Hiện nay, tại Việt Nam không có hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành thống nhất phục vụ cho công tác QHĐT và QLPTĐT mà phân tán trong hệ thống dữ liệu của các Bộ, Ngành, cơ quan địa phương. Các dữ liệu không những thiếu, không đồng bộ mà ít được cập nhật.

(1) Dữ liệu QLPTĐT bao gồm các nhóm: bản đồ, kinh tế - xã hội, dân số - lao động, sử dụng đất, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, môi trường, QLPTĐT. Một số vấn đề tồn tại bao gồm:

Loại hình dữ liệu: cần phải bổ sung các loại hình dữ liệu về bản đồ chuyên đề, dữ liệu biến đổi khí hậu, cảnh báo thiên tai. Đối với các dữ liệu sử dụng đất dân số, hạ tầng kỹ thuật cần phải bổ sung các thông tin chuyên sâu và chi tiết: sự biến thiên của dân số, giao thông công cộng đô thị, lưu lượng và mật độ xe trên các tuyến đường, lưu lượng từng loại rác thải,...

Chất lượng dữ liệu: trong các văn bản có quy định, tuy nhiên việc ứng dụng trong thực tế còn thiếu, không đủ tính cập nhật (do sử dụng các dữ liệu cũ), đặc biệt là nội dung các dữ liệu còn sơ sài như dữ liệu về lao động, nhà ở…

Theo Thông tư số 12/2016/TT-BXD quy định về phần bản vẽ trong hồ sơ QHĐT, hầu hết bản vẽ của các bộ môn và nội dung bản vẽ đều quy định đo vẽ trên bản đồ nền địa hình theo tỷ lệ thích hợp. Như vậy bản đồ nền địa hình đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dung thông tin của các đồ án QHĐT.

Để đảm bảo tính đầy đủ của dữ liệu, qua qua khảo sát và phân tích, dữ liệu QH cần phải có đủ 72 lớp thông tin chính phân chia theo các nhóm và đã được liệt kê trong bảng thuyết minh tổng hợp.

(2) Việc áp dụng công nghệ GIS đã được số nước áp dụng như Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc... Các quốc gia này đã phát triển chính sách đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng GIS quốc gia. Việc hoàn thiện GIS quốc gia đã được chú trọng đầu tiên nên đã đưa lại nền tảng cơ bản cho các ứng dụng chuyên ngành. Các ứng dụng nâng cao tiếp tục được phát triển dựa trên dữ liệu không gian đã được xây dựng đối với đô thị là hệ thống hỗ trợ quyết định như PSS-hệ thống hỗ trợ quy hoạch, DSS-hỗ trợ mô phỏng một vấn đề cụ thể nhằm trợ giúp quy hoạch, SDSS-hỗ trợ các nhà ra quyết định lựa chọn, với sự tham gia của các bên liên quan.

Tại Việt Nam, việc áp dụng công nghệ được thí điểm khá sớm nhưng đến nay vẫn ở mức thấp so với thế giới, hạ tầng dữ liệu không gian quốc gia vẫn chưa được hoàn thiện. Việc phát triển ứng dụng GIS hiện nay còn đơn lẻ chưa có sự đồng bộ trong các ngành nói chung và ngành Xây dựng nói riêng, do vậy hiệu quả của ứng dụng mới giới hạn ở các lĩnh vực lưu trữ, in ấn, các tư liệu bản đồ bằng công nghệ GIS. Trong lĩnh vực quản lý, điều hành, trợ giúp quyết định hầu như mới dừng ở mức thử nghiệm. Các quy định ứng dụng công nghệ GIS đến nay vẫn chưa có một văn bản cụ thể nào được ban hành trong ngành QH. Bên cạnh đó còn có một số khó khăn trong việc ứng dụng GIS tại Việt Nam được đúc kết từ những kinh nghiệm ứng dụng GIS đã và đang triển khai, các vấn đề phương tiện máy móc, phần mềm… được nêu dưới đây:

- Máy móc: nhiều cơ quan, đơn vị chưa phát huy được hiệu quả hạ tầng các thiết bị đúng mức. Nhiều nơi tuy đầu tư mua sắm trang thiết bị nhưng việc ứng dụng CNTT trong chuyên môn nghiệp vụ rất hạn chế.

- Phần mềm: công nghệ phần mềm chủ yếu tự phát, nhiều nơi vẫn còn sử dụng phần mềm không có bản quyền.

- Dữ liệu: chưa có khung chuẩn về cơ sở địa lý do vậy xây dựng dữ liệu tại các đơn vị có ứng dụng GIS không đồng nhất. CSDL nền dùng chung chưa thống nhất giữa các cơ quan, đơn vị… Các sản phẩm dữ liệu được xây dựng từ các đề tài, dự án mới chỉ ứng dụng ở mức độ phục vụ chuyên môn nghiệp vụ.

- Con người: một số nơi đã đào tạo được một lực lượng cán bộ chuyên môn có trình độ nghiệp vụ tương đối chắc chắn, đảm bảo là nhân tố nòng cốt cho việc tiếp quản, vận hành và phát triển các dự án GIS. Tuy nhiên số lượng những đơn vị này chưa nhiều.

- Cơ chế: đây là một trong những nguyên nhân lớn cho việc ứng dụng GIS còn nhiều hạn chế. Do chưa ban hành quy định ứng dụng công nghệ GIS trong ngành QH nên một số dự án mặc dù đã xây dựng phần mềm GIS với mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu GIS và vận hành hệ thống, tuy nhiên sau khi phần mềm được chuyển giao cho đơn vị chỉ vận hành được thời gian ngắn và bị bỏ dở hay không hoạt động thường xuyên.

PGS.TS.KTS Lưu Đức Cường
Viện trưởng Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia (VIUP)

Theo Báo Xây dựng

Loading...
Bạn đang đọc bài viết Kỳ 2: Hệ thống chỉ tiêu và cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị tại chuyên mục Quy hoạch – Kiến trúc. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0913 385 005 - 0917 681 188 Hoặc email: bandientu.mtdt@gmail.com
Tin cùng chuyên mục Quy hoạch – Kiến trúc