Hà Nội, Thứ Bảy Ngày 11/07/2020

Sự du nhập của các loài ngoại lai

Mtđt, 16:51 24/02/2017

(phapluatmoitruong.vn) - Phạm vi sống về địa lý của nhiều loài được giới hạn bởi các hàng rào do chính các yếu tố môi trường và khí hậu tạo ra ngăn cản sự phát tán. Các loài động vật có vú sống ở Bắc Mỹ không thể nào vượt qua Trung Mỹ để đến được Thái Bình Dương để đến được Haoai, các loài cá biển tại vùng biển Caribê không thể vượt qua Trung Mỹ để đến được Thái Bình Dương và các loài cá nước ngọt trong các hồ của Châu Phi không có cách nào vượt cạn để đến những hồ biệt lập lân cận. Các đại dương, sa mạc, đỉnh núi và những dòng sông đều đã ngăn cản sự di chuyển của các loài. Do sự cách ly địa lý, quá trình tiến hoá được phân ly theo các hướng khác nhau trên những khu vực chính của Trái đất; ví dụ như các loài sinh vật ở khu vực Châu Úc - Niu Ghi Nê khác hẳn với chính các loài ở khu vực Đông Nam Á lân cận. Các hòn đảo, những nơi cư trú biệt lập cách ly hoàn toàn có xu hướng phát triển các loài sinh vật đặc hữu.

Những người Châu Âu đến một vùng thuộc địa mới mang theo và thả ra hàng trăm các giống chim thú của Châu Âu đến các nơi như New Zealand, châu Úc, Nam Mỹ để làm cho phong cảnh ở đây trở nên thân quen với họ cũng như để tạo ra thú vui săn bắn.

Rất nhiều loài cây được mang đến và trồng lại tại những vùng đất mới như cây cảnh, cây nông nghiệp hoặc cây cho chăn nuôi gia súc. Rất nhiều loài trong số đó thoát vào tự nhiên và thâm nhập vào các quần thể bản địa [1].

Có nhiều loài được con người vận chuyển một cách không chú ý; ví dụ thường xảy ra nhất là các hạt cỏ vô tình bị thu hoạch cùng với các hạt ngũ cốc được đem bán và được gieo trên những địa bàn mới. Chuột, các loài côn trùng “cư trú” bất hợp pháp trên máy bay, tàu thuỷ, các vectơ truyền bệnh, các động vật ký sinh được vận chuyển cùng với các động vật chủ của chúng. Các tàu thuyền thường mang theo các loài ngoại lai trong các khoang hầm. Các túi đất để dằn tàu lấy thăng bằng được chon tại các khu vực cảng thường mang theo các hạt cỏ và các ấu trùng sống trong đất. Các túi nước để dằn tàu đổ ra ở cảng thường đem theo các loại rêu, tảo, động vật không xương sống và các loài cá nhỏ. Nước để giữ thăng bằng cho tàu thải ra ở vịnh Coos, Oregon đã chứa 367 loài sống ở biển có xuất xứ từ Nhật Bản (Carlton và Geller, 1993).

Rất nhiều vùng trên thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các loài du nhập. Có khoảng 4600 loài thực vật du nhập ở quần đảo Hawaii, số lượng này nhiều gấp ba lần tổng số loài bản địa sống ở đây (St.John,1973). Nhiều khu đất ngập nước của Bắc Mỹ hoàn toàn bị xâm chiếm vĩnh viễn bởi các loài du nhập: loài cỏ hoa đỏ (loosestrife) của Châu Âu chiếm những vùng đầm lầy tại Đông Bắc Mỹ, còn laòi cây kim ngân Nhật bản mọc lại dày đặc tại các vùng đất của Đông Nam Mỹ. Quá nửa số loài cá nước ngọt tại Massachusett được mang đến từ rất nhiều nơi, các loài này chiếm phần lớn cơ cấu của sinh khối về cá (Hartell, 1992). Các loài côn trùng được du nhập cố ý như ong mật, ông nghệ, và không cố ý như kiến lửa, và ong mật châu Phi, có thể lập thành một quần thể lớn. Tác hại của những côn trùng du nhập này là chúng có thể phá hoại và tiêu diệt nhiều loại côn trùng bản địa (Porter và Savignado 1990). Tại một số địa điểm ở Nam châu Mỹ, mức đa dạng của các loai côn trùng giảm đến 40% sau khi khu vực này bị loài kiến lửa du nhập chiếm lĩnh [1].

Việc di nhập các loài thuỷ sinh vật từ lãnh thổ bên ngoài vào nước ta cũng đang trở thành yếu tố ảnh hưởng đến ĐDSH. Trước hết, có thể có những loài có khả năng cạnh tranh cao hơn những loài bản địa, làm thu hẹp vùng phân bổ, có khi tiêu diệt loài bản địa, làm thay đổi cấu trúc của xích thức ăn trong các hệ sinh thái hay trở thành dịch hại, nhất là những loài ăn thịt; hiện tượng lai tạp giữa loài bản địa và loài di nhập làm mất vốn gen tốt của những dòng thuần, đã từng tiến hóa và phát triển tại địa phương; sự nhập nội còn kéo theo những loài kí sinh trùng và mầm bệnh mới tiềm ẩn, gây tác hại cho loài địa phương.

Trên thế giới hiện vẫn tồn tại các hồ nước tuyệt vời được tạo nên bởi Mẹ thiên nhiên. Và hồ Hamilton, bang Texas, Mỹ là một trong số đó. Ảnh TL

Trong nửa thế kỷ qua, nước ta đã nhập tới 114 loài thuỷ sinh vật từ nước ngoài vào, gồm 27 loài cá nước ngọt và cá biển, 1 loài artemia, 4 loài lưỡng cư và bò sát, 29 loài thực vật nổi nước ngọt, nước mặt và 2 loài động vật nổi nước mặn. Những mặt tích cực và tiêu cực của việc du nhập bước đầu đã xuất hiện ở những loài khác nhau và trong những mức độ khác nhau. Đối với bất cứ một quốc gia nào, khi sản xuất nông lâm ngư nghiệp đều có giao lưu, trao đổi, mua bán… các sản phẩm giống cây trồng, vật nuôi với các quốc gia khác hoặc giữa các vùng khác nhau. Sinh vật di nhập này có thể nhân lên nhanh chóng trong điều kiện mới để thích ứng với môi trường (Cục Môi trường, 2002). Năm 2000, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Giang đã báo cáo về việc thu hẹp và mất giống cam bản địa do du nhập và trồng hơn 400 ha táo Srilanka vào xã Tân Tiến. Thiệt hại này tính đến hàng trăm tỷ đồng.

Những rủi ro tương tự cũng xảy ra với sinh vật di nhập. Những sinh vật này không thích nghi với điều kiện sinh thái của môi trường sống mới nên thường bị thoái hoá hay phát sinh những đặc điểm không mong đợi trong quá trình thích ứng với điều kiện sống mới. Điều này phải kể đến nạn dịch ốc bươu vàng. Loài nhuyễn thể này được nhập vào Việt Nam với mục đích làm thực phẩm và phòng chống sinh học. Trong quá trình thích ứng và phát triển, ốc bươu vàng đã phát triển nhanh chóng mặt với mật độ quần thể lớn và phá hoại mùa màng, ảnh hưởng nghiêm trọng của việc nhập nội loài lạ là việc phá vỡ cân bằng hệ sinh thái vốn đã thích ứng bền vững với loài bản địa và thu hẹp vùng phân bố của loài bản địa.[2]

Chuột hải li (Myocastor coypus) là loài gặm nhấm, đào hang sống ở bờ sông, bờ đê, đập, cắn phá và gây thiệt hại trầm trọng thảm thực vật ngập nước. Hơn nữa lại là vật chủ truyền bệnh xoắn khuẩn gây sốt vàng da rất nguy hiểm. Chuột hải li được nhập vào nước ta từ năm 2000 nhưng đã bị Chính phủ cấm và tiêu diệt do thấy rõ tác hạ của chúng. Không rõ có con nào xổng ra ngoài tự nhiên hay không.

Sáo đá xanh (Sturnus vulgaris): là loài chim phàm ăn và hầu như ăn mọi thứ, do đó làm giảm các loài côn trùng bản địa (là thiên địch của sâu bệnh), vì thế sáo đá xanh là thủ phạm phá hoại mùa màng. Tại Việt Nam đã thấy sáo đá xanh xuất hiện ở Hải Dương, Hưng Yên. Cần theo dõi để có giải pháp thích hợp.

Hoa ngũ sắc (Lantana camara Linn): Hoa ngũ sắc thuộc họ cúc được trồng làm cây cảnh ở nhiều nơi trên đất nước ta. Loài hoa này phát triển rất nhanh như một loài cỏ dại, gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp của hơn 50 nước trên thế giới.

Bèo Nhật Bản (Eichomia crassipes (Mart). Solms): Còn gọi là bèo tây, lục bình, nguồn gốc Nhật Bản, xâm nhập vào Việt Nam từ những năm 1930 theo đường biển và đến nay đã lan tràn hầu hết ao hồ nước ngọt. Bèo tây phát triển nhanh, cản trở giao thông, che kín anhsangs làm các loài thuỷ sinh bị chết.

Bọ hung đen nhỏ, có nguồn gốc từ Đài Loan theo giống mía nhập về Thạch Thành - Thanh Hoá, bùng phát thành dịch, tàn phá khoảng 500ha mía năm 2001 và có nguy cơ lan rộng.

Bọ dừa (Brontispa sản phẩm ) xâm nhập vào Việt Nam theo cây cau cảnh. Bọ dừa Brontispa sản phẩm . chuyên ăn diệp lục của lá dừa non còn trong bọc lá, bùng phát thành dịch từ năm 1999, tàn phá nặng nề rừng dừa nước ta từ Phú Yên trở vào. Thiệt hại nhất là rừng dừa Khánh Hoà và Bến Tre. Hiện nay chưa có cách gì tiêu diệt họ dừa Brontispa sp. vì giá dừa quá rẻ nên người trồng dừa không quan tâm lắm đến phòng trừ dịch hại. Vả lại bọ đừa Brontispa sp. trưởng thành biết bay, dễ dàng rời bỏ than cây bị xử lý bằng hoá chất sang cây khác [2].

Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra của Viện nghiên cứu nguồn lợi thuỷ sản II cho biết, cá hổ (Piranha) xuất hiện cuối năm 1996, đầu năm 1997 tại thị trường cá cảnh TP Hồ Chí Minh với số lượng ít, được bán chủ yếu tại một vài gian hang cá cảnh tại khu vực Chợ Lớn, quận 5. Do loài cá này rất hung dữ nên không được ưa chuộc làm cá cảnh. Tuy nhiên, hiện nay chúng vẫn còn được nuôi tại bể cảnh của một số gia đình chơi và kinh doanh cá cảnh tại quận 5 và quận 8… (Hà Thanh Tùng, Báo Khoa học và Đời sống, số 34(1234)).

Cần chặn đứng việc nhập lậu giống lúa

Trong năm 1995 và 1996, qua các cửa khẩu Lạng Sơn và Quảng Ninh một lượng lớn thóc giống đã được nhập vào nước ta mà không qua kiểm dịch và giám định thực vật. Kết quả tại Trung tâm Kiểm dịch và giám định thực vật Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng như tại Viện Sinh thái học và Tài nguyên sinh vật đã cho thấy: Nghiên cứu với 12 giống lúa nhập qua con đường tiểu ngạch của Trung Quốc về thấy có 10 giống bị nhiễm tuyến trùng gây bệnh bạc trắng đầu lá lúa, số lượng tuyến trùng gây bạc trắng đầu lá lá trong 100 hạt là từ 2 - 424 cá thể. Trong đó 6 giống lúa có số lượng tuyến trùng cao hơn nhiều so với giới hạn cho phép. Nếu như lúc bấy giờ, nhà nước ta không có các biện pháp kịp thời thì không biết hậu quả sẽ như thế nào.

Tại sao các loài du nhập lại dễ dàng xâm nhập và chiếm lĩnh các nơi cư trú và thay thế các loài bản địa đến vậy? Một trong những lý do quan trọng là ở nơi cư trú mới chưa có các loài thiên địch của chúng như các động vật là kẻ thù, các loài côn trùng và các loài động vật ký sinh, nấm bệnh. Ví dụ như khi thỏ được mang đến châu Úc chúng phát triển đến mức không kiểm soát được, ăn sạch các loài cỏ bản địa bởi vì không có một biện pháp hữu hiệu để kiểm soát và khống chế sự phát triển của chúng. Để kiểm soát số lượng thỏ ở đây người ta lại phải nhập một số tác nhân gây bệnh dịch đã từng khống chế được số lượng thỏ tại quê hương của chúng.

Một nguyên nhân khác khiến loài nhập cư phát triển mạnh là bản thân vùng sống của chúng được mở rộng trong lục địa do chúng rất thích nghi với môi trường bị con người làm thay đổi (Soule, 1990). Tại phía Bắc Châu Mỹ, việc chia cắt các cánh rừng, phát triển các vùng ngoại ô và sự tiếp cận dễ dàng với rác thải đã cho phép các loài như sói nhỏ, cáo đỏ, chim cắt, chim mòng phát triển với số lượng lớn. Các loài ăn thịt này đã phát triển và lấn át các loài bản địa có tính cạnh tranh kém hơn và không chống trả được với kẻ thù.

Một dạng khác nữa của các loài nhập cư là các loài có quan hệ gần gũi vớic các loài bản địa. Khi các loài nhập cư này được lai ghép với các loài bản địa, thì các genotype độc nhất của loài bản địa cót hể bị loại trừ khỏi các quần thể địa phương, sự khác biệt về hình thái trong các con lai có thể trở nên không rõ ràng.[1]

Loại lạ không có biên giới chính trị, song lại có biên giới sinh - địa lý. Trong một nước phân vùng sinh địa lý đã được tự nhiên phân định cho các loài bản địa, việc chống nhập loài lạ phải được đặc biệt quan tâm. Một loài lạ có thể tiêu diệt một số loài bản địa và ổ sinh thái của các loài đó. Những rủi ro từ loài nhập nội đang ngày một tăng từ các hợp đồng thương mại. Điều này cần được giải quyết theo Pháp lệnh Bảo vệ giống cây trồng và Pháp lệnh Kiểm dịch thực vật ban hành năm 2001, 2013.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Richard. B. Primack - “Cơ sở sinh học bảo tồn” - NXB Khoa học - Kỹ thuật.

2. Cục Môi trường - “Sinh vật lạ xâm lấn” - Hà Nội - 2002.

PGS.TS Nguyễn Đức Khiển

Nguyên Giám đốc Sở KH &CN Hà Nội/

Theo Môi trường và Đô thị Việt Nam

Loading...
Bạn đang đọc bài viết Sự du nhập của các loài ngoại lai tại chuyên mục Vật liệu xây dựng. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0912 345 014 - 0917 681 188 Hoặc email: bandientu.mtdt@gmail.com
Tin cùng chuyên mục Vật liệu xây dựng
(phapluatmoitruong.vn) - Hơn mười năm tự mày mò chế tạo, Nguyễn Hải Châu không ngờ có ngày vinh dự đón nhiều nhà khoa học tên tuổi trong lĩnh vực máy nông nghiệp về thăm xưởng sản xuất của mình ở ngõ 2, đường Liên Mạc, phường Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Tới thời điểm này, anh đã cho ra đời 30 loại máy tích hợp nhiều chức năng như chế biến thức ăn chăn nuôi, máy băm cỏ, máy làm cám viên, máy nghiền phế phẩm nông nghiệp…, xứng đáng là nhà sáng chế của nông dân.