Hà Nội, Thứ Ba Ngày 16/07/2019

Thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí tại VN

Mtđt, 10:14 10/05/2019

Ở Việt Nam ô nhiễm môi trường không khí diễn ra chủ yếu ở các khu công nghiệp, khu sản suất và ở các đô thị lớn. Tình trạng ô nhiễm do bụi xảy ra phổ biến hơn cả.

Ô nhiễm không khí không phải là vấn đề mới được phát hiện. Nó đã được đề cập đến cách đây hàng thế kỷ nhưng chỉ đến thời gian gần đây, khi hành loạt hậu quả do ô nhiễm môi trường không khí gây ra thì con người mới thực sự quan tâm đến nó.

Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội không song song với công tác bảo vệ môi trường diễn ra phổ biến ở các nước đang phát triển và việc xả một lượng lớn khí thải của các nước phát triển đã góp phần gây ra hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu, thậm chí là thủng tầng ozon… Trước thực trạng đó, cả thế giới trong đó có Việt Nam đang loay hoay tìm ra giải pháp để giảm thiểu tối đa sự ô nhiễm không khí và các hệ lụy của nó.

1. Khái quát chung về không khí và ô nhiễm không khí
1.1. Khái niệm không khí và ô nhiễm không khí
Không khí là một thành phần của khí quyển, là vật chất tồn tại ở thể khí, bao phủ toàn bộ bề mặt của trái đất, cần cho hô hấp của động vật cũng như quá trình quang hợp của các thực vật, là nguồn gốc của sự sống. Không khí là hỗn hợp khí gồm có khí nitơ chiếm 78,9%; oxi chiếm 0,95%; acgong chiếm 0,93%; đioxit cacbon chiếm 0,32% và một số hiếm khí khác như neon, hêli, mêtam, krypton. Trong điều kiện bình thường của độ ẩm tuyệt đối, hơi nước chiếm gần 1 – 3% thể tích không khí.
Ô nhiễm không khí là sự biến đổi không khí theo hướng bất lợi với cuộc sống của con người, động vật và thực vật. Dưới góc độ pháp lí, ô nhiễm không khí được hiểu là sự thay đổi tính chất không khí, vi phạm tiêu chuẩn không khí mà pháp luật đã quy định. Nói cách khác, ô nhiễm không khí là tình trạng không khí có xuất hiện chất lạ hoặc có sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí làm thay đổi tính chất lí, hóa vốn có của nó, vi phạm tiêu chuẩn môi trường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, gây tác động có hại cho con người và thiên nhiên.

1.2. Thực trạng ô nhiễm không khí tại Việt Nam
Ở Việt Nam ô nhiễm môi trường không khí diễn ra chủ yếu ở các khu công nghiệp, khu sản suất và ở các đô thị lớn. Tình trạng ô nhiễm do bụi xảy ra phổ biến hơn cả. Đặc biệt là tại các trục đường giao thông chính, các khu vực công trường đang thi công, xây dựng; hàm lượng bụi còn vượt quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh nhiều lần. Bên cạnh đó, là hoạt động của các nhà máy sản xuất xi măng, khai khoáng, nhiệt điện cũng đang tiếp tục thải vào môi trường không khí một lượng lớn bụi. Nồng độ các khí độc hại như: SO2, NO2, CO được ghi nhận ở các làng nghề tái chế nhựa, đúc đồng vượt nhiều lần giới hạn cho phép. Ngoài ra, tình trạng ô nhiễm tiếng ồn và ô nhiễm mùi cũng gây rất nhiều bức xúc trong thời gian vừa qua.

1.3. Hậu quả của ô nhiễm không khí
Đối với con người, ô nhiễm không khí tác động tiêu cực tới sức khỏe con người, gây ra các bệnh về đường hô hấp như: hen suyễn, ho, viêm phổi, viêm phế quản thậm chí cả ung thư, ảnh hưởng tới tuổi thọ của con người. Khi đó con người phải chi trả một lượng lớn tiền cho khám chữa bệnh; năng suất, chất lượng công việc giảm sút, gây ảnh hưởng tới nền kinh tế và sự phát triển của đất nước.
Đối với môi trường và hệ sinh thái, ô nhiễm không khí là nguyên nhân gây ra hiện tượng lắng đọng và mưa axit gây hủy hoại các hệ sinh thái, bào mòn các công trình xây dựng. Nồng độ các chất gây ô nhiễm cao trong không khí còn gây ra hiệu ứng nhà kính và đẩy nhanh biến đổi khí hậu.

Ô nhiễm không khí là sự thay đổi thành phần của không khí. Sự thay đổi này chủ yếu là do khói bụi, khí lạ. Sự thay đổi này sẽ gây biến đổi khí hậu, làm giảm tầm nhìn xa hoặc ảnh hưởng đến sức khoẻ của con
người và sinh vật. Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

1.4. Nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm không khí
Thứ nhất, các hiện tượng tự nhiên là một trong những nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường không khí như: hiện tượng cháy rừng vào mùa khô, những cơn bão cát, bão bụi hay hoạt động phun trào của núi lửa,…
Thứ hai, hoạt động của con người là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm không khí. Do hoạt động sản xuất công nghiệp với cơ sở cũ, công nghệ sản xuất lạc hậu và hầu như các cơ sở này đều thiếu thiết bị xử lý khí thải độc hại hoặc xử lý chưa triệt để các chất độc hại dẫn tới môi trường xung quanh bị ôn nhiễm. Sự gia tăng của các phương tiện giao thông, đặc biệt là vào giờ cao điểm đã phát thải một lượng lớn bụi, khí độc hại vào môi trường không khí. Bên cạnh đó, là tình trạng các công trình thi công chưa được che chắn, phủ bạt và hiện tượng rơi vãi vật liệu xây dựng trên đường đã làm gia tăng đáng kể hàm lượng bụi trong môi trường không khí. Ngoài ra, việc người dân đun nấu bằng than, củi, rơm rạ cũng là một nguồn gây ô nhiễm, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của người dân.

2. Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí tại Việt Nam
Kiểm soát ô nhiễm không khí là trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức, cá nhân để bảo vệ môi trường không khí khỏi những tác động bất lợi của thiên nhiên và của con người. Hiện nay pháp luật Việt Nam quy định:

2.1. Pháp luật về hệ thống quy chuẩn kĩ thuật môi trường không khí
Tại Khoản 5, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định:
“Quy chuẩn kĩ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu càu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường.”
Thứ nhất, quy chuẩn kĩ thuật về chất lượng môi trường không khí xung quanh. Việt Nam hiện nay có hai quy chuẩn kĩ thuật môi trường về chất lượng không khí xung quanh. Đó là QCVN 05:2013/BTNMT– Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh và QCVN 06:2009/BTNMT– Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh. Hai quy chuẩn này được sử dụng để đánh giá chất lượng môi trường không khí xung quanh và giám sát tình trạng ô nhiễm môi trường không khí. Như vậy, có thể thấy, khi xác định nồng độ các chất gây ô nhiễm trong không khí theo hai quy chuẩn nêu trên Nhà nước vẫn có thể kiểm soát được tình trạng ô nhiễm không khí, đảm bảo một cuộc sống ổn định cho người dân. Nhìn chung, việc kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí xung quanh của Việt Nam vẫn ở mức độ kiểm soát ổn định.
Thứ hai, quy chuẩn kĩ thuật môi trường về khí thải. Bao gồm quy chuẩn kĩ thuật về khí thải đối với nguồn thải động và quy chuẩn kĩ thuật về khí thải đối với nguồn thải tĩnh.Trong đó, quy chuẩn kĩ thuật môi trường về khí thải đối với nguồn thải tĩnh là những quy định quan trọng góp phần ngăn ngừa và giảm thiểu đến mức tối đa tình trạng gây ô nhiễm môi trường không khí từ các hoạt động công nghiệp, xây dựng của các cơ sở sản xuất. Còn quy chuẩn kĩ thuật môi trường về khí thải đối với nguồn thải động nhằm kiểm soát và giảm thiểu được lượng khí thải độc hại từ các phương tiện giao thông đưa vào không khí xung quanh, từ đó khắc phục được phần nào tình trạng ô nhiễm không khí xung quanh.
Nhìn chung, hệ thống quy chuẩn kĩ thuật về môi trường không khí của nước ta tương đối hoàn thiện, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội. Nó đã đáp ứng được những yêu cầu cơ bản về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí xung quanh và khí thải. Tuy nhiên, pháp luật cần bổ sung, hoàn thiện hơn nữa về hệ thống các văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể để pháp luật về bảo vệ môi trường và cụ thể là môi trường không khí được áp dụng trong thực tiễn.

2.2. Pháp luật về phòng chống, khắc phục ô nhiễm không khí, cải thiện chất lượng không khí
Một là, hoạt động quan trắc và định kì đánh giá hiện trạng môi trường không khí của các cơ quan nhà nước. Hoạt động này giúp cơ quan nhà nước quản lý về môi trường nắm được tình hình chất lượng không khí, dự báo những biến đổi của nó trong trong tương lai cũng như chủ động phòng chống, loại trừ nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường. Theo quy định tại Điều 125, Luật Bảo vệ môi trường 2014, hoạt động quan trắc liên quan đến môi trường không khí sẽ do Bộ tài nguyên và môi trường, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, người quản lý, vận hành cơ sở sản xuất kinh doanh tiến hành.
Hai là, hoạt động ĐTM. Đây là hoạt động phòng ngừa ô nhiễm môi trường nói chung trong đó có môi trường không khí được tiến hành bởi cả cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân. Chủ dự án phải lập báo cáo ĐTM với ba nội dung như: Phân tích hiện trạng môi trường không khí tại địa bàn hoạt động của dự án hoặc của cơ sở mình, dự báo diễn biến môi trường không khí khi dự án đi vào hoạt động hoặc cơ sở tiếp tục hoạt động trên địa bàn đó, kiến nghị các giải pháp thích hợp về bảo vệ môi trường không khí. Báo cáo ĐTM là cơ sở quan trọng để cơ quan có thẩm quyền xét duyệt dự án quyết định cho phép hay không cho phép dự án được thực hiện, hoặc đưa ra các biện pháp bắt buộc thực hiện để giải quyết các tồn tại về môi trường
Ba là, hoạt động thông tin về tình hình môi trường không khí. Hoạt động này giúp cho các tổ chức, cá nhân nắm rõ thực trạng chất lượng không khí nơi mình đang sinh sống hoặc nơi họ đang tiến hành các hoạt động phát triển. Nhờ hoạt động này, các tổ chức, cá nhân chủ động tiến hành các biện pháp phòng ngừa sự cố ô nhiễm, chủ động đối phó với các sự cố môi trường không khí. Đồng thời các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường thường xuyên kiểm soát được những biến động của môi trường.
Bốn là, hoạt động xử lí, phục hồi khu vực không khí môi trường bị ô nhiễm được thực hiện theo quy định chung về xử lí ô nhiễm, phục hồi và cải thiện môi trường tại Chương X Luật Bảo vệ môi trường 2014. Theo đó trách nhiệm điều tra, xác định khu vực bị ô nhiễm thuộc về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường phải tiến hành ngay biện pháp khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường.
Hoạt động quan trắc môi trường, báo cáo ĐTM đã mang lại những kết quả đáng khen ngợi. Thông qua các số liệu cụ thể, cơ quan nhà nước hoặc các cá nhân có thẩm quyền có thể đánh giá được tình hình môi trường không khí, dự báo những biến đổi có thể xảy ra, từ đó có những biện pháp kịp thời, chủ động để phòng chống, hạn chế những nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường không khí, bảo đảm một môi trường với không khí ổn định để con người sinh sống và làm việc hiệu quả. Tuy nhiên, hoạt động quan trắc vẫn chưa thống kê được hết các nguồn thải nên chưa thể xác định chính xác về nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường không khí. Bên cạnh đó, việc xác định trách nhiệm và xử lý vi phạm còn gặp nhiều khó khăn do đặc thù của môi trường không khí là khuếch tán nhanh và các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm thường tiến hành vào ban đêm,..

Ô nhiễm môi trường không khí đang đang trở thành vấn đề nghiệm trọng và khó khắc phục hiện nay. Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

2.3. Pháp luật về kiểm soát nguồn gây ô nhiễm không khí

Pháp luật về kiểm soát nguồn gây ô nhiễm không khí là những quy phạm pháp luật kiểm soát ô nhiễm không khí ngay từ nguồn phát sinh ra khí thải, bao gồm nguồn thải tĩnh và nguồn thải động. Về hoạt động kiểm soát nguồn thải tĩnh được quy định tại Điều 64, Luật Bảo vệ môi trường 2014 và Chương VI của Nghị định 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu, Quy chuẩn kỹ thuật môi trường về khí thải. Đối với hoạt động kiểm soát nguồn thải động là hoạt động kiểm soát nguồn thải của các phương tiện giao thông. Tuy nhiên, hiện nay quy định của pháp luật về kiểm soát nguồn thải vẫn còn hạn chế. Đặc biệt, việc xác định trách nhiệm cụ thể của các chủ thể khi có hành vi xả thải vào môi trường những khí thải độc hại cũng ẩn chứa nhiều khó khăn. Khi đó, đặt ra trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xử lý và hoàn thiện pháp luật.

2.4. Pháp luật về hệ thống cơ quan kiểm soát ô nhiễm không khí
Để thực hiện một cách đầy đủ và có hiệu quả các hoạt động kiểm soát ô nhiễm không khí, cần phải xây dựng hệ thống cơ quan kiểm soát ô nhiễm môi trường thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Về cơ quan có thẩm quyền chung, bao gồm Chính phủ và UBND các cấp. Theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001 và Điều 140 Luật Bảo vệ môi trường 2014 thì “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước”. Và tại Điều 143, Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định cụ thể trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp như: ban hành văn bản pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí tại các địa phương, chỉ đạo thực hiện các văn bản của cấp trên và những văn bản do chính mình ban hành, thẩm định báo cáo ĐTM, ...
Về cơ quan có thẩm quyền chuyên môn: Bộ Tài nguyên và môi trường là cơ quan có thẩm quyền chuyên môn cao nhất, trực thuộc Chính phủ trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm không khí. Các bộ và cơ quan ngang bộ tùy thuộc vào phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình cũng có trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm không khí. Sở Tài nguyên và môi trường là cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân, có nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân thực hiện kiểm soát ô nhiễm không khí tại địa phương trong lĩnh vực chuyên môn: tiến hành các hoạt động thanh tra môi trường không khí, tiếp nhận và giải quyết các hoạt động khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm phạm luật về môi trường không khí.
Có thể nói, hệ thống cơ quan kiểm soát ô nhiễm không khí ở nước ta khá đầy đủ và thống nhất từ trung ương đến địa phương. Đây là tiền đề quan trọng để hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí được diễn ra đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích cho nhân dân, nhà nước, xã hội.
2.5. Quy định của pháp luật về việc xử lý các hành vi vi phạm bảo vệ môi trường không khí
Tùy thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi mà các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm sẽ phải gánh chịu trách nhiệm kỷ luật, xử lí hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong đó, trách nhiệm kỷ luật là một biện pháp đặc biệt chỉ áp dụng với các đối tượng là cán bộ, công chức. Cụ thể các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường có thể bị xử phạt theo quy định của pháp luật tại Nghị định 155/2016/NĐ-CP về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 182 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009, tùy theo mức độ vi phạm người phạm tội có thể chịu hình thức phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc hình phạt tù.

3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí tại Việt Nam
3.1. Những thành tựu đã đạt được trong việc kiểm soát ô nhiễm không khí
Với sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp các ngành, hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí đã từng bước mang lại hiệu quả. Công tác chỉ đạo thực hiện các văn bản pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, thẩm định báo cáo ĐTM, cấp giấy phép môi trường cho các cơ sở công nghiệp,… ngày càng được chú trọng và được hoàn thiện tốt hơn. Trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức ngày càng được nâng cao, đáp ứng các yêu cầu về kĩ thuật trong công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường và đặc biệt là môi trường không khí. Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho người dân về bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường không khí nói riêng đã phát huy hiệu quả trong thực tế.
Ý thức của người dân được nâng cao và tự nguyện thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường. Biểu hiện là người dân đã quan tâm hơn tới vấn đề bảo vệ môi trường không khí ở nơi sinh sống, tích cực trồng nhiều cây xanh để môi trường được trong lành hơn và thực hiện nhanh chóng, đầy đủ các nghĩa vụ về tài chính trong bảo vệ môi trường. Như vậy, nhân dân đã tự mình xây dựng ý thức trách nhiệm, sự tự giác trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí.

3.2. Những tồn tại, hạn chế trong việc kiểm soát ô nhiễm không khí
Hiện nay việc phối hợp để giải quyết các vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường không khí giữa các cơ quan nhà nước còn nhiều hạn chế và hiệu quả chưa cao. Nguyên nhân của tình trạng trên là do hạn chế của pháp luật. Tình trạng chồng chéo văn bản quy định về quyền hạn, trách nhiệm của các bộ trong việc giải quyết cùng một vấn đề vẫn khá phổ biến. Bên cạnh đó, là việc các bộ chưa giành sự quan tâm đúng mực đối với hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Ngoài ra, việc thiếu các quy định về thu thập và chia sẻ số liệu về kiểm soát ô nhiễm không khí giữa các bộ và địa phương với nhau cũng gây cản trở hoạt động hợp tác cũng như kết nối giữa các cơ quan. Việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm luật về bảo vệ môi trường chưa được phát hiện, ngăn chặn kịp thời gây ra những hậu quả đáng tiếc.
Các cá nhân, tổ chức chưa nghiêm túc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Hiện tượng xả khí thải chưa qua xử lý và xả thải vượt quy chuẩn vẫn còn diễn ra. Thậm chí, nhiều trường hợp các chủ thể lợi dụng thời tiết mưa gió, xả thải vào ban đêm để tránh sự kiểm soát của cơ quan nhà nước. Như vậy, vì lợi ích của bản thân mà họ đã gây ra bao nhiêu hệ lụy cho những người xung quanh, cho nhà nước và môi trường sinh thái.

4. Những kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí

Từ thực trạng pháp luật và thực tiễn như trên, pháp luật cần phải đề ra nhiều giải pháp thiết thực hơn nữa để việc kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí đạt được hiệu quả cao:

Thứ nhất, phải hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường không khí, bởi đây là cơ sở, căn cứ pháp lý quan trọng để giải quyết các vụ việc trong thực tiễn. Cần ban hành các chính sách và kế hoạch hành động cụ thể trên cơ sở những điều luật được quy định tại Luật bảo vệ môi trường 2014. Cần bổ sung một văn bản pháp luật quy định cụ thể việc đảm bảo một nguồn không khí sạch, từ đó khắc phục việc các quy định về kiểm soát ô nhiễm không khí được quy định ở nhiều văn bản khác nhau.

Thứ hai, thiết lập hệ thống quan trắc và phân tích môi trường tại nhiều nơi trên cả nước, đặc biệt là tại các thành phố lớn nhằm thu thập thông tin môi trường không khí một cách kịp thời, chính xác. Từ đó có thể kiểm soát và từng bước giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Phải tiến hành quan trắc môi trường thường xuyên, định kỳ để có những biện pháp xử lý phù hợp, bảo đảm môi trường không khí phù hợp để người dân có thể phát triển lành mạnh.

Thứ ba, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo đảm môi trường không khí. Xử lý nghiêm các hành vi có ảnh hưởng xấu đến môi trường không khí. Cần gia tăng chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường không khí nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung. Bên cạnh đó, phải nâng cao trình độ, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện hoạt động giám sát, kiểm tra việc xử lý ô nhiễm môi trường không khí

Thứ tư, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo đài, tích cực tuyên truyền phổ biến cho người dân về bảo vệ môi trường. Tăng cường, nâng cao nhận thức cho quản lý, các chủ cơ sở sản xuất về tác động, ảnh hưởng và thiệt hại do ô nhiễm môi trường không khí gây ra để góp phần cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường không khí, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Vận động người dân sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường. Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất thân thiện với môi trường bằng cách giảm thuế hoặc đưa ra các chính sách ưu đãi.

Bảo vệ môi trường không khí không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của mọi cá nhân, tổ chức. Để bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước, chúng ta cần tiến hành song song việc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường. Hoạt động ban hành pháp luật và thực thi pháp luật phải được chú trọng hơn nữa để hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí diễn ra hiệu quả. Việt Nam cần nghiêm túc thực hiện các điều ước đã ký kết với quốc tế để phạm vi của việc bảo vệ môi trường không khí được mở rộng, không chỉ ở trong nước, trong khu vực mà còn là toàn cầu./.

Ths. Nguyễn Thị Khánh Huyền
Ths. Ngô Tuyết Mai
Trường Đại học Luật Hà Nội

Loading...
Bạn đang đọc bài viết Thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí tại VN tại chuyên mục Nghiên cứu – Trao đổi. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0913 385 005 - 0917 681 188 Hoặc email: bandientu.mtdt@gmail.com
Tin cùng chuyên mục Nghiên cứu – Trao đổi