Hà Nội, Chủ nhật Ngày 20/09/2020

Thực trạng quản lý chất thải rắn tại Việt Nam

TS. Đồng Anh, 16:08 02/03/2020

Theo kết quả điều tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2019, lượng chất thải rắn (CTR) sinh hoạt phát sinh từ khu vực đô thị khoảng hơn 37.000 tấn/ngày với tỷ lệ thu gom, xử lý khoảng 85%.

Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình nông thôn trong cả nước vào khoảng hơn 24.000 tấn/ngày. Việc thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố, đô thị bước đầu đã có kết quả tốt; tuy nhiên tại nông thôn chưa được coi trọng, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn mới đạt khoảng 40%-55%.

Nhiều khu vực nông thôn vùng sâu, vùng xa, miền núi, việc thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt rất khó khăn, nhiều bãi rác tự phát hình thành chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường. Phương pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt phổ biến là chôn lấp (71% lượng chất thải rắn sinh hoạt chôn lấp), trong đó có nhiều bãi không hợp vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường.

Về quy hoạch, đối với Trung ương đã có chiến lược Quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050. Bộ Xây dựng có quy hoạch vùng và quy hoạch quốc gia. Đối với địa phương, đã có 59/63 tỉnh thành đã có quy hoạch về chất thải rắn. Qua điều tra thực tế, có địa phương thực hiện tốt quy hoạch, nhưng có những địa phương dù đã có quy hoạch nhưng triển khai không nghiêm, khiến quy hoạch vị phá vỡ. Ví dụ, quy hoạch một nhà máy xử lý rác với khoảng cách đến khu dân cư là 500m, nhưng sau đó, khi thực thi lại không đảm bảo. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng khiếu kiện xảy ra ở một số địa phương trong thời gian gần đây.

Chất thải rắn sinh hoạt ngày càng nhiều và gây ô nhiễm

Về công nghệ xử lý, Việt Nam có đầy đủ các nhóm công nghệ, từ công nghệ truyền thống chôn lấp đến công nghệ hiện đại đốt rác tạo năng lượng. Thống kê chung toàn quốc, 71% rác được xử lý theo công nghệ chôn lấp, gồm cả chôn lấp hợp vệ sinh và chôn lấp không hợp vệ sinh. Đơn cử Hà Nội, có hơn 90% rác vẫn được chôn lấp, chỉ có 10% được đốt. Tại TP.HCM, 70% là chôn lấp, 30% rác đốt và xử lý bằng công nghệ khác. Các tỉnh khác cũng tương tự như vậy.

Để xử lý rác, hữu ích nhất là công nghệ đốt rác thu hồi năng lượng. Thế nhưng, công nghệ này cũng có điều kiện, không phải bất kỳ tỉnh, thành phố nào cũng áp dụng được. Trước tiên, phải có nguồn rác đủ lớn. Hiện nay, các mô đun đốt rác phát điện chỉ áp dụng được với địa phương có nguồn rác tối thiểu từ 400 tấn/ngày đêm trở lên, doanh nghiệp mới có lợi nhuận. Tiếp đó, khoảng cách thu gom trên địa bàn không quá xa. Nếu quá xa, chi phí vận chuyển rất tốn kém.

Theo Thứ trưởng Bộ TNMT Võ Tuấn Nhân, lượng CTR sinh hoạt phát sinh hiện nay tại các khu đô thị vào khoảng 38.000 tấn/ngày và tại khu vực nông thôn vào khoảng 32.000 tấn/ngày. Trong đó, tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải tại khu vực đô thị đạt khoảng 85%; tại khu vực nông thôn còn thấp, trung bình đạt khoảng 40-55%. Công tác vận chuyển hiện còn gặp nhiều khó khăn, các bãi chôn lấp chất thải thường ở xa khu dân cư làm tăng chi phí vận chuyển. Trong khi đó, mức phí vệ sinh môi trường thu từ các hộ gia đình hiện nay mới chỉ chi trả được một phần cho hoạt động thu gom chất thải, không đủ để chi trả cũng như duy trì cho hoạt động vận chuyển. Phương pháp xử lý CTR sinh hoạt hiện nay chủ yếu là chôn lấp, trong đó chỉ có khoảng 30% các bãi chôn lấp hợp vệ sinh. Ngoài ra, trên cả nước hiện có khoảng 30 cơ sở xử lý chất thải thành phân mùn hữu cơ (compost) và gần 300 lò đốt CTR sinh hoạt (chủ yếu là lò đốt rác cỡ nhỏ, quy mô cấp xã). Việc đầu tư và xây dựng các khu xử lý chất thải, các bãi chôn lấp hợp vệ sinh mới chỉ được thực hiện ở một số tỉnh có nguồn thu ngân sách lớn.

Quản lý tổng hợp chất thải rắn là cách tiếp cận chiến lược để quản lý bền vững, gồm tất cả các khía cạnh, từ phát sinh đến thu gom, trung chuyển, vận chuyển, phân loại, xử lý và tiêu hủy chất thải. Đây là khung tham chiếu để thiết kế và thực hiện các hệ thống quản lý chất thải mới, cũng như để phân tích và tối ưu hóa các hệ thống quản lý chất thải hiện có.

Theo TS. Nguyễn Trung Thắng, Viện Chiến lược chính sách tài nguyên và môi trường, quản lý tổng hợp chất thải rắn là quản lý toàn bộ vòng đời chất thải từ khi phát sinh đến xử lý cuối cùng. Bao gồm phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý cuối cùng, với mục đích bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên, thích ứng với biến đổi khí hậu và hướng tới sự phát triển bền vững của đất nước.

Quản lý tổng hợp chất thải rắn phải được điều chỉnh theo các cơ chế quản lý hiệu quả, linh hoạt, thích ứng. Hệ thống quản lý cần đặt trong bối cảnh, có thể đáp ứng tốt nhất các điều kiện xã hội, kinh tế và môi trường. Đặc điểm của mô hình này là coi chất thải là tài nguyên: Tối đa hóa các cơ hội thu hồi tài nguyên ở tất cả các giai đoạn, từ giai đoạn phát sinh đến giai đoạn cuối cùng.

Xử lý rác thải sinh hoạt đang là bài toán lớn với các đô thị tại Việt Nam

Đây là cách tiếp cận toàn diện đối với tất cả các dòng chất thải, nên sẽ tối đa hóa lợi ích tổng hợp trong thu gom, tái chế, xử lý và thải bỏ, thúc đẩy việc xem xét vòng đời của sản phẩm và vật liệu, giúp sử dụng hiệu quả tài nguyên hơn; đồng thời tích hợp các biện pháp, công cụ khác nhau như chính sách pháp luật; kỹ thuật, công nghệ, quản lý, tài chính, nhận thức…; nâng cao trách nhiệm và vai trò của chính quyền địa phương; khuyến khích sự tham gia của khối tư nhân (trong thu gom, tái chế, thu hồi năng lượng, tiêu hủy) và cộng đồng (giảm thiểu phát sinh, phân loại rác tại nguồn).


Những ưu tiên trong quản lý tổng hợp chất thải rắn trước hết là phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh, sau đó là tái sử dụng, tái ch ế- thu hồi vật liệu, thu hồi năng lượng và ưu tiên cuối cùng là tiêu hủy. Qua đó, chính sách quản lý tổng hợp chất thải rắn phải tích hợp các khía cạnh gồm tiêu chuẩn bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường, tài chính bền vững, khuyến khích công nghệ và cải tiến công nghệ. Vai trò của các bên liên quan cũng cần được xác định một cách cụ thể.

Quản lý tổng hợp chất thải rắn là trách nhiệm của chính quyền địa phương, Nhà nước hỗ trợ tài chính và tạo lập hành lang pháp lý, vai trò tham gia của khu vực tư nhân và cộng đồng. Trong đó, công nghệ quản lý tổng hợp chất thải rắn phải được lựa chọn, thiết kế phù hợp với đặc tính và số lượng của rác thải rắn, tương thích với các điều kiện kinh tế-xã hội để vận hành.

Năm 2016, tổng lượng chất thải rắn đô thị trên thế giới phát sinh vào khoảng 2 tỷ tấn, dự báo đến năm 2030 sẽ tăng lên 2,5 tỷ tấn. Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ chất thải rắn đô thị được tái chế ước tính vào khoảng dưới 10%. Về tái chế kim loại, giấy, nhựa ở Trung Quốc, Ấn Độ được tái chế nhiều nhất; riêng chất thải điện tử được tái chế khoảng 84%. Tại các nước phát triển như Nhật Bản và New Zealand, chất thải trong nông nghiệp, chăn nuôi thường được tái chế thành năng lượng ở các dạng bioga, còn chất thải xây dựng được tái chế lên tới 99%.

TS. Nguyễn Trung Thắng cho biết, ở hầu hết các quốc gia, quản lý chất thải rắn là trách nhiệm của chính quyền địa phương, rất ít chính quyền trung ương trực tiếp liên quan đến quản lý, ngoài việc ban hành chính sách, giám sát hoặc trợ cấp. Khoảng 70% dịch vụ chất thải được giám sát trực tiếp bởi chính quyền địa phương, phần còn lại được quản lý thông qua các cấp chính quyền khác, cơ quan liên tỉnh, các tổ chức công - tư hay các công ty tư nhân. Có tới 50% các dịch vụ được điều hành là cơ quan công lập; khoảng 1/3 các dịch vụ thu gom về xử lý và chôn lấp chất thải vận hành qua đối tác công - tư.

Hiện có tới 2/3 quốc gia đã xây dựng quy định pháp luật riêng về quản lý chất thải rắn, dù mức độ thực thi khác nhau. Gần 70% quốc gia thành lập các cơ quan có trách nhiệm xây dựng chính sách và quy định giám sát trong lĩnh vực chất thải.

Về tài chính cho quản lý chất thải rắn, chi phí thu gom, vận chuyển và chôn lấp hợp vệ sinh ở các nước thu nhập thấp tối thiểu khoảng 35 USD/tấn và thường cao hơn mức này. Quản lý chất thải rắn chiếm khoảng 20% tổng chi phí hoạt động của chính quyền đô thị ở các quốc gia có thu nhập thấp; hơn 10% đối với quốc gia có thu nhập trung bình và 4% đối với quốc gia thu nhập cao. Đặc biệt, hợp tác đối tác công tư (PPP) có tiềm năng giảm gánh nặng đối với ngân sách nhà nước, nhưng nếu PPP không được cấu trúc và quản lý đúng cách có thể dẫn đến sự thỏa hiệp về chất lượng dịch vụ.

Theo TS. Hoàng Dương Tùng, nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Môi trường, tồn tại lớn nhất của công tác quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở nước ta là chưa áp dụng được phương thức tổng hợp, chưa chú trọng đến các giải pháp phân loại chất thải rắn tại nguồn, tái sử dụng và tái chế chất thải nhằm hướng tới giảm khối lượng chất thải rắn phải chôn lấp.

Việt Nam cũng đã đạt được một số kết quả, song cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong quản lý chất thải rắn. Vì vậy, Việt Nam cần tiếp cận theo nguyên tắc coi chất thải là tài nguyên; phát triển nền kinh tế tuần hoàn; tăng cường giảm thiểu phát sinh, thúc đẩy tái chế, thu hồi năng lượng; giảm chôn lấp rác.

Tuy nhiên,Việt Nam tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách; tổ chức điều tra, khảo sát đánh giá, dự báo về tình hình phát sinh, quản lý chất thải rắn cho các vùng, miền, địa phương, từ đó lựa chọn các mô hình, công nghệ xử lý một cách phù hợp. Mặt khác, phải hoàn thiện cơ chế tài chính trong lĩnh vực này để huy động sự tham gia của kinh tế tư nhân. Ở các thành phố lớn có đủ điều kiện tăng dần mức phí, áp dụng cơ chế ưu đãi trong xử lý chất thải rắn phát điện. Bên cạnh đó, cần chú trọng phát triển ngành công nghiệp tái chế, đi đôi với xây dựng cơ sở dữ liệu làm cơ sở hoạch định chính sách và chiến lược, quy hoạch về quản lý chất thải rắn.

Từ thực trạng nêu trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09 ngày 3/2/2019 giao Bộ TNMT là cơ quan đầu mối, thống nhất quản lý nhà nước về CTR trên cả nước; giao Chủ tịch UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện về vấn đề rác thải và xử lý rác thải trên địa bàn.

Thực hiện Nghị quyết số 09 của Thủ tướng Chính phủ hiện, Bộ TNMT đã ban hành kế hoạch và đang tích cực triển khai các nhiệm vụ nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về CTR, trong đó tập trung đánh giá tình hình thực hiện các chiến lược, kế hoạch về CTR; tổ chức kiểm tra, đánh giá thực trạng công tác quản lý CTR trên phạm vi cả nước; chuẩn bị nội dung để tổ chức Hội nghị toàn quốc về CTR; hoàn thiện Đề án truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng về CTR. Bên cạnh đó Bộ cũng đang khẩn trương xây dựng các Đề án: Tăng cường năng lực quản lý CTR tại Việt Nam, tăng cường quản lý rác thải nhựa ở Việt Nam./.

Bạn đang đọc bài viết Thực trạng quản lý chất thải rắn tại Việt Nam tại chuyên mục Nghiên cứu – Trao đổi. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0912 345 014 Hoặc email: banbientapmoitruongdothi@gmail.com
Tin cùng chuyên mục Nghiên cứu – Trao đổi