Hà Nội, Chủ nhật Ngày 20/06/2021

Hiệp định EVFTA: Cơ hội cho các sản phẩm làng nghề Hà Nội

PGS.TS Nguyễn Đức Khiển, 11:28 19/02/2021

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) được thông qua là cơ hội cho các làng nghề Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng trong việc phát triển hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống.

Với 1.350 làng nghề và làng có nghề, ngành thủ công mỹ nghệ đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu và phát triển kinh tế của Hà Nội. Vì vậy, tập trung vào xuất khẩu đang là con đường mà nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất làng nghề tại Hà Nội hướng tới. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) được thông qua là cơ hội cho các làng nghề Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng trong việc phát triển hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống.

Cơ hội cho các doanh nghiệp làng nghề

Theo thống kê, TP Hà Nội hiện có 1.350 làng nghề và làng có nghề, hội tụ 47 nghề trong tổng số 52 nghề truyền thống của cả nước, chiếm 59% tổng số làng nghề toàn quốc. Trong số đó có 308 làng nghề, làng nghề truyền thống đã được UBND TP Hà Nội công nhận. Nhiều sản phẩm làng nghề, thủ công mỹ nghệ đã xuất khẩu ra thị trường quốc tế; trên 2.300 sản phẩm nông sản thực phẩm đã gắn mã truy xuất nguồn gốc QR Code. Đây chính là cơ sở tiềm năng lựa chọn sản phẩm để hoàn thiện, đánh giá phân hạng và dự thi sản phẩm thuộc chương trình “Mỗi xã một sản phẩm (OCOP)” đối với TP Hà Nội.

Ngày 27/1/2021 UBND thành phố có quyết định 560/QĐ-UBND phê duyệt kết quả đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP cấp thành phố năm 2020 (đợt 2).

Nội dung như sau (trích dẫn):

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22/11/2019;

Căn cứ các Quyết định của Thủ tưởng Chính phủ: Số 490/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 về việc phê duyệt Chương trình môi xã một sản phẩm giai đoạn 2018 - 2020; số 1048/QĐ-TTg ngày 21/8/2019 về việc ban hành Bộ tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm Chương trình Mỗi xã một sản phẩm; số 781/QĐ-TTg ngày 08/6/2020 về việc sửa đổi, bố sung một số Phụ lục Quyết định số 1048/QÐ-TT ngày 21/8/2019 của Thủ tướng Chỉnh phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm Chương trình Mỗi xã một sản phẩm;

Căn cứ Quyết định số 3629/QĐ- UBND ngày 08/7219 của UBND thành phố Hà Nội về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm thành phố Hà Nội đến năm 2020 (Chương trình OCOP Thành phố);

Căn cứ Quyết định số 5346/QĐ-UBND ngày 25/9/2019 của UBND thành phố Hà Nội về việc thành lập Hội động và Tổ tư vấn giúp việc Hội đồng đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP thành phố Hà Nội đến năm 2020;

Căn cứ Quyết định số 6873/QĐ-UBND ngày 29/11/2019 của UBND thành phố Hà Nội ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng và Tổ tư vẫn giúp việc hội đồng đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP thành phố Hà Nội đến năm 2020;

Theo đề nghị của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - cơ quan thường trực của Hội đồng đánh giá, phân hạng sản phẩm Chương trình OCOP thành phố Hà Nội tại Tờ trình số 531/TTr-HĐĐGSPOCOP ngày 30/12/2020 và Biên bản họp Hội đồng đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP (lần 1 ngày 27/12/2020, lần 2 ngày 30/12/2020).

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Phê duyệt kết quả đánh giá, phân hạng các sản phẩm thuộc Chương trình OCOP cập thành phô Hà Nội năm 2020 (Đợt 2) cụ thể như sau:

  1. Phân hạng đối với 424 sản phẩm từ ba (03) sao trở lên của 96 chủ thể OCOP tham gia Chương trình OCOP thành phô Hà Nội năm 2020 (Đợt 2), trong đó:

- Có 03 sản phẩm có tiềm năng đạt năm (05) sao đề nghị Trung ương đánh giá, công nhận sản phẩm OCOP Quốc gia;

- Có 310 sản phẩm đạt hạng bốn (04) sao;

- Có 111 sản phẩm đạt hạng ba (03) sao.

(Có danh sách kèm theo).

Điều 2. Tổ chức thực hiện ……..

Điều 3. Hiệu lực của quyết đinh …….

Theo Sở Công Thương Hà Nội, ước tính trên địa bàn các quận, huyện, thị xã của thành phố có trên 7.000 sản phẩm địa phương. Nhiều sản phẩm làng nghề, thủ công mỹ nghệ của Hà Nội đã xuất khẩu ra thị trường quốc tế như: Gốm sứ Bát Tràng (huyện Gia Lâm), mây tre giang đan Phú Nghĩa (huyện Chương Mỹ), sơn mài Duyên Thái (huyện Thường Tín)… Ở những làng có nghề, đặc biệt là các làng nghề phát triển, thu nhập bình quân của người dân cao hơn rất nhiều so với làng thuần nông. Ước tính, khu vực làng nghề của Hà Nội đang tạo việc làm cho khoảng 1 triệu lao động; giá trị sản xuất đạt khoảng 22.000 tỷ đồng, tương đương gần 1 tỷ USD, trong đó, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 200 triệu USD/năm.

Gốm sứ Bát Tràng đã xuất khẩu ra thị trường. Ảnh: Tư liệu

Ông Lưu Duy Dần, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam cho biết, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/8/2020, sẽ là cơ hội mở ra cho các làng nghề Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng trong việc phát triển hàng thủ công mỹ nghệ mang tính truyền thống. Hiệp định EVFTA rất có lợi cho các nhà sản xuất của Việt Nam nói chung và các làng nghề nói riêng, nhất là trong ngành nghề thủ công mỹ nghệ, dù rằng thuế xuất khẩu của mặt hàng này từ trước khi có Hiệp định vẫn ở mức 0%. Bởi lẽ, tác động của Hiệp định đối với các doanh nghiệp làng nghề không phải ở tác động đi mà là tác động lại. Đó là không gian thị trường, tiếp cận các nguồn lực về công nghệ, vốn cho sự phát triển.

Theo đó, chính các nhà nhập khẩu từ châu Âu cũng sẽ có lợi từ việc nhập khẩu hàng hóa từ thị trường Việt Nam và nhiều doanh nghiệp của châu Âu sẽ tìm đến Việt Nam. Từ đó, tạo lực kéo giúp các doanh nghiệp làng nghề nói chung và mặt hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng của Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào thị trường EU.

Theo PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, giảng viên cao cấp Học viện Tài chính nhận định, cơ hội mở ra cho làng nghề là rất lớn. EU có thu nhập bình quân đầu người rất cao, tiêu dùng tương đối đa dạng, phong phú. Đặc biệt, thị trường này có một trào lưu tiêu dùng đơn chiếc và tiêu dùng hàng handmade. Do đó, việc phát triển các sản phẩm mang tính chất truyền thống sẽ là thế mạnh của Việt Nam.

Cùng với đó, khi Hiệp định EVFTA đi vào thực thi, các sản phẩm làng nghề nói chung và sản phẩm thủ công mỹ nghệ nói riêng đều nằm trong diện được miễn thuế ngay. Điều này giúp sản phẩm làng nghề đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất khẩu sang thị trường EU mà không có giới hạn về mặt thuế quan và định lượng. Đây cũng sẽ là bệ phóng giúp sản phẩm làng nghề của Hà Nội thâm nhập vào các thị trường khác. Mặt khác, EU có quá trình công nghiệp hóa với các làng nghề lâu dài, đây cũng là cơ sở để cho Việt Nam tiếp cận được công nghệ phù hợp với các làng nghề…

Khi cơ hội cũng là áp lực

Giai đoạn tới, thế giới dưới tác động của Covid-19 vẫn phải hứng chịu những hậu quả nghiêm trọng, ví dụ như khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế nghiêm trọng. Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghệ 4.0 với sự bùng nổ của công nghệ số đã tạo ra nhiều sự đột phá trên nhiều lĩnh vực.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng, Việt Nam phải thực hiện đầy đủ và hiệu quả các cam kết khi tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Một trong những thách thức đặt ra cho Việt Nam trong giai đoạn tới đó là nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Ban chấp hành Trung ương Đảng đã đưa ra được 3 mục tiêu phát triển kinh tế dài hạn. Cụ thể, đến năm 2025, Việt Nam là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Năm 2030, Việt Nam sẽ trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, Việt Nam sẽ trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường của thế giới cũng như khu vực Việt Nam sẽ phải đối mặt với không ít thách thức, áp lực để hoàn thành mục tiêu.

Trước tiên, đại dịch Covid-19 dù đã được kiểm soát khá tốt tại Việt Nam, nhưng còn nhiều diễn biến phức tạp tại các quốc gia khác trên thế giới. Mặc dù nhiều nước đã thử nghiệm thành công và đưa vào sử dụng vacxin ngừa Covid-19, nhưng nhiều chuyên gia đã cảnh báo rằng bên cạnh việc khắc phục Covid-19, thế giới còn có thể sẽ phải đối mặt với virus mới. Ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh đối với nền kinh tế khiến nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, người lao động mất việc làm.

Hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có chiều hướng giảm so với cùng kì năm trước. Cùng với đó, dịch Covid-19 gây ra khủng hoảng về kinh tế và tác động nặng nề nhất là tăng gánh nặng nợ công của Việt Nam. Việc chi tiêu nhiều cho quá trình phòng ngừa dịc Covid-19, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trọng việc giảm thiểu tác động của dịch bệnh có thể phải chịu áp lực gia tăng nợ công. Khoản nợ này có thể kéo dài và trở thành thách thức đối với quốc gia khi làm chậm quá trình phát triển kinh tế.

Sự dịch chuyển chuỗi cung ứng trên toàn cầu có thể là một cơ hội lớn với những doanh nghiệp cung cấp nguyên liệu vốn đang khó tìm thị trường tiêu thụ, nhưng cũng sẽ là một thách thức lớn khi họ phải đảm bảo về số lượng và chất lượng tương ứng.

Trong khi đó, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam đến nay còn chưa hiệu quả. Thực tế cho thấy, Việt Nam đã có những bước chuyển dịch khá nhanh từ nông nghiệp sang công nghiệp. Tuy nhiên, nhiều yếu tố cần thiết đảm bảo cho phát triển cơ cấu kinh tế hiện đại chưa được đảm bảo cụ thể như: Chất lượng nguồn nhân lực nước ta còn hạn chế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thấp, quy mô doanh nghiệp nhỏ, chuỗi cung ứng sản phẩm yếu… Cùng với đó, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao đóng góp còn tương đối thấp, xuất khẩu vẫn phụ thuộc nhiều vào nhóm hàng do cac doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài dẫn dắt làm cho kim ngạch xuất khẩu mặc dù tăng nhưng hàm lượng nội địa không tăng tương ứng. Để có cơ cấu kinh tế hiện đại, cần một khoảng thời gian khá dài để điều chỉnh.

Chiến lược là then chốt, nhưng thích ứng quan trọng không kém

Trong giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã hoàn tất nhiều hiệu định thương mại lớn với các nước trong khu vực và thế giới, từ đó mở ra những cơ hội trong phát triển kinh tế, sự tham gia thị trường lớn của doanh nghiệp Việt. Song song đó là những thách thức doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt. Việt Nam sẽ phải hoàn chỉnh hệ thống pháp lý để phù hợp với tiêu chuẩn của khu vực và thế giới trong quá trình tham gia các hiệp định thương mại đó.

Đồng thời, việc đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện để tham gia các hiệp định thương mại không phải là điều dễ dàng với đại đa số doanh nghiệp Việt Nam. Cac doanh nghiệp Việt Nam phải chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ đến từ những tập đoàn và doanh nghiệp lớn trong khu vực và thế giới ngay trên thị trường Việt Nam. Sự thua kém trong cạnh tranh có thể khiến Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam chịu thua thiệt ngay trên sân nhà. Thực tế cho thấy, độ mở nền kinh tế càng cao thì nguy cơ dễ tổn thương càng lớn trước sự tác động của các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, rào cản thương mại, cú sốc giá hay từ sự thay đổi chính sách của các quốc gia nhập khẩu hàng hóa Việt Nam.

Bên cạnh những lợi ích, tác động tích cực tới kinh tế và xã hội của các quốc gia, CMCN 4.0 còn kéo theo những hệ quả nhất định. CMCN sẽ làm thay đổi cơ cấu lao động hoặc thậm chí phá vỡ thị trường lao động, dẫn tới sự bất bình đẳng lớn hơn trong xã hội khi tự động hóa dần thay thế con người. Cũng từ đây, tỉ lệ thất nghiệp có thể gia tăng khi người lao động dần bị thay thế bởi máy móc.

Một trong những thách thức Việt Nam phải đối mặt là về sự phát triển tương ứng của cơ sở hạ tầng, đặc biệt cơ sở hạ tầng cho công nghệ. Trong những năm vừa qua Việt Nam đã có sự phát triển mạnh về cơ sở hạ tầng công nghệ nhưng so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới vẫn còn có khoảng cách rất lớn. Thêm vào đó, sự chuyển đổi quá nhanh sang nền kinh tế số trong khi đại đa số người dân của Việt Nam còn có trình độ công nghệ thấp đã dẫn tới sự khập khiễng và khó khăn. CMCN với sự phát triển của mạng internet, kinh tế số, AI… đòi hỏi một sự bảo mật cao cho người sử dụng. Tuy nhiên, vấn đề an ninh mạng tại Việt Nam hiện nay mới chỉ ở bước sơ khai, một số lĩnh vực then chốt của nhà nước mới ứng dụng, những ngành nghề khác chưa được quan tâm. Hoặc tự bản thân doanh nghiệp lớn sẽ có ý thức trong an ninh mạng.

Việt Nam theo đuổi mục tiêu thu nhập từ trung bình thấp tới trung bình cao cho giai đoạn 2025 – 2045. Nếu không có một chiến lược phát triển phù hợp với tình hình chung của đất nước, khu vực và thế giới, Việt Nam dễ phải đối mặt với những bẫy thu nhập. Khoảng cách thu nhập giữa các cá nhân, giữa khu vực thành thị và nông thôn có thể bị giãn cách ngày một rộng.

Kinh tế Việt Nam hiện nay chủ yếu vẫn dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên theo chiều rộng, trong đó đất đai, tài nguyên rừng, thủy điện được sử dụng nhiều, không kiểm soát dẫn tới phá vỡ quy hoạch phát triển nhiều vùng kinh tế, gây mất cân bằng sinh thái tự nhiên, ảnh hưởng lớn tới ổn định kinh tế - xã hội và môi trường. Điều này đặt ra thách thức lớn đối với Việt Nam trong tiến trình đạt mục tiêu phát triển bền vững ở cả ba trụ cột kinh tế - xã hội – môi trường. Đặc biệt, Việt Nam là nước nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu toàn cầu, tình trạng nước biển xâm nhập sâu và rộng, bão lũ, thiên tai diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội.

Biến đổi khí hậu thực sự trở thành mối đe dọa đảm bảo bền vững an ninh lương thực và sinh kế cho người dân Việt Nam. Việc đầu tư ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai đặt ra nhiều thách thức đối với phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong giai đoạn sắp tới.

Nâng chất lượng sản phẩm để tháo rào cản

Hiệp định EVFTA mang đến nhiều cơ hội nhưng cũng đi kèm không ít thách thức. Bởi lẽ, Châu Âu là thị trường kỹ tính, do vậy, để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu tới thị trường này, bắt buộc đối với sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam không chỉ là chất lượng sản phẩm mà còn phải đáp ứng nhiều tiêu chí khác. Điều đó đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp làng nghề phải nỗ lực rất lớn để đáp ứng các yêu cầu của đối tác nhập khẩu. Từ thực tiễn, muốn vào được thị trường Châu Âu, các doanh nghiệp phải đáp ứng được “hàng rào kỹ thuật” rất khắt khe, đơn cử như: Sản phẩm phải có tính văn hóa, không sử dụng lao động trẻ em trong sản xuất, sản phẩm có môi trường lao động tốt, bảo đảm thu nhập và cuộc sống của người lao động (từ bữa ăn đến khu vệ sinh, tiêu chuẩn tiếng ồn, an toàn lao động…).

Theo bà Hà Thị Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và làng nghề Hà Nội, Giám đốc Công ty TNHH gốm sứ Quang Vinh cho hay, làng nghề Hà Nội còn có điểm yếu đó là sự liên kết lỏng lẻo; mô hình kinh doanh của các hộ gia đình mang tính chất nhỏ lẻ, manh mún; cách thức quản lý, công nghệ sản xuất hàng hóa còn lạc hậu, bởi vậy để nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm trong thời gian ngắn là điều rất khó.

Một trong những thách thức Việt Nam phải đối mặt là về sự phát triển tương ứng của cơ sở hạ tầng, đặc biệt cơ sở hạ tầng cho công nghệ. Ảnh: TTXVN

Tuy nhiên, do nắm bắt được nhu cầu thị trường nên trong những năm qua, một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất của làng nghề khác cũng chú tâm hơn đến tự đổi mới công nghệ, tư duy quản trị doanh nghiệp và xây dựng thương hiệu, thiết kế mẫu mã, bao bì… để tạo sức cạnh tranh trên thị trường. Trong đó, nhiều doanh nghiệp đã thay đổi thiết kế theo mùa hoặc từng năm để hợp “gu” của thị trường.

Đồng quan điểm này, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, giảng viên cao cấp Học viện Tài chính cho rằng, khi mở cửa, sẽ có sản phẩm làng nghề của EU vào Việt Nam với giá cả hợp lý và với chất lượng cao cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm làng nghề Việt. Trong khi sản phẩm làng nghề Hà Nội nói chung và Việt Nam nói riêng thiếu tính đồng loạt, đặc biệt là các sản phẩm handmade khiến các doanh nghiệp gặp khó trước đòi hỏi về những đơn hàng xuất khẩu lớn của khách hàng EU. Cách thức quản lý, công nghệ của các làng nghề Hà Nội hiện nay quá lạc hậu, để cạnh tranh được thì đây là bài toán rất khó.

Do vậy, các doanh nghiệp, hộ sản xuất tại các làng nghề cần đặc biệt lưu tâm thương hiệu, chỉ dẫn địa lý mang tính chất địa điểm làng nghề. Khi đó, sẽ khẳng định được thương hiệu của Việt Nam khi tham gia xuất khẩu và bảo đảm được quyền lợi của nhà xuất khẩu. 2019, triển lãm các sản phẩm, mẫu thiết kế hàng thủ công mỹ nghệ mới, sáng tạo lần đầu tiên được Hà Nội tổ chức đã tạo sự lan tỏa các ý tưởng thiết kế mẫu sản phẩm mới, có tính ứng dụng và giá trị thẩm mỹ cao, đáp ứng yêu cầu thị trường, góp phần tăng cường mối liên kết giữa người thiết kế - thợ thủ công – nhà sản xuất – nhà phân phối và người tiêu dùng. Đây cũng là tiền đề cho việc xây dựng và hình thành sàn giao dịch các thiết kế, mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ mới, sáng tạo trên địa bàn thành phố, phục vụ phát triển ngành thủ công mỹ nghệ nói chung và chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” trên địa bàn Hà Nội nói riêng.

Tài liệu tham khảo:

  1. Lương Thúy Bình, “Bệ phóng cho sản phẩm làng nghề Hà Nội” Khoa học và Đời sống, xuân 2021
  1. TS. Đặng Thái Bình, “Thoát “bẫy” để hóa rồng” Khoa học và Đời sồng, xuân 2021

Bạn đang đọc bài viết Hiệp định EVFTA: Cơ hội cho các sản phẩm làng nghề Hà Nội tại chuyên mục Kinh tế Môi trường. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0912 345 014 Hoặc email: banbientapmoitruongdothi@gmail.com
Tin cùng chuyên mục Kinh tế Môi trường