Thứ tư, 08/02/2023 02:11 (GMT+7)

Kinh tế tuần hoàn trong xu thế phát triển bền vững đô thị

MTĐT -  Thứ ba, 24/01/2023 00:08 (GMT+7)

Theo dõi MTĐT trên

Các thành phố sẽ ngày càng đối mặt với nhiều thách thức hơn về kinh tế, xã hội và môi trường. Vì vậy, các đô thị sẽ đóng vai trò quan trọng trong thực thi chính sách phát triển bền vững và xây dựng lộ trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn.

Các thành phố là nơi hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi và có tiềm năng, lợi thế để tạo ra sự thay đổi tích cực, góp phần vào sự phát triển bền vững chung của quốc gia. Điều này đã giúp cho mô hình kinh tế tuần hoàn (KTTH) đang giành lấy sự quan tâm và được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau ở khắp nơi trên thế giới. Đặc biệt là, các thành phố và vùng đô thị có quy mô phù hợp nhất để thực hiện các hoạt động chuyển dịch sang KTTH.

Ở Việt Nam, Nghị quyết 06-NQ/TW về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Bộ Chính trị ban hành ngày 24/01/2022 cho thấy sự cần thiết phải có những giải pháp mới, đột phá gắn liền với sự phát triển bền vững của đô thị Việt Nam.

1. Kinh nghiệm mô hình kinh tế tuần hoàn gắn với phát triển bền vững đô thị trên thế giới

Nhiều đô thị lớn và chính quyền địa phương ở các quốc gia trên thế giới đã xác lập tầm nhìn dài hạn phát triển KTTH. Tầm nhìn này được thể hiện trong các loại hình văn bản khác nhau như chương trình hành động ở Barcelona (Tây Ban Nha), Rotterdam (Hà Lan), lộ trình phát triển Amsterdam (Hà Lan) hay lồng ghép vào các chương trình hiện hữu như Kế hoạch tổng thể “không rác thải” (Zero Waste Masterplan) của Singapore.

Một số chính quyền địa phương ở châu Âu đã bắt đầu thực hiện lộ trình chuyển đổi sang mô hình KTTH. Glassgrow (Anh) đặt mục tiêu trở thành thành phố đầu tiên của Anh đạt được mục tiêu không phát thải carbon vào năm 2030. Để đạt được mục tiêu này, chính quyền thành phố đã hỗ trợ các doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ, mở rộng mua sắm công “xanh”, tăng cường truyền thông về lợi ích của mô hình KTTH.

Amsterdam là một trong các thành phố sớm nhất trên thế giới ban hành Chiến lược Amsterdam tuần hoàn giai đoạn 2020 - 2025 (Amsterdam Circular Strategy 2020-2025). Chiến lược này nhằm mục đích giảm đáng kể việc sử dụng các nguyên liệu thô, góp phần tạo nên một thành phố bền vững. Trong những năm tới, thành phố sẽ phân loại các luồng nguyên liệu khác nhau (material flow), từ khâu nhập khẩu đến khâu chế biến, nhằm tái sử dụng nguồn nguyên liệu còn giá trị.

Mục tiêu của chiến lược là giảm một nửa việc sử dụng các nguyên liệu thô mới vào năm 2030 và trở thành một đô thị tuần hoàn vào năm 2050. Chính quyền Amsterdam tập trung vào 3 lĩnh vực: thực phẩm và chất thải hữu cơ; hàng tiêu dùng; và xây dựng. Các tiêu chí tuần hoàn cũng sẽ được áp dụng trong quá trình mua sắm công và đấu thầu.

2. Đề xuất mô hình kinh tế tuần hoàn gắn với phát triển đô thị ở Việt Nam

2.1 Hiện trạng về định hướng chính sách

Hiện nay, ở Việt Nam, chính sách cụ thể về KTTH còn hạn chế, các vấn đề có liên quan về việc giảm thiểu và tái chế chất thải đã được đề cập trong nhiều văn bản về phát triển bền vững và bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Chẳng hạn như trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, lần đầu tiên vấn đề về giảm thiểu, tái chế và tái sử dụng nguồn tài nguyên đã được đề cập...

Đặc biệt, việc phê duyệt Đề án Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam (Quyết định số 687/QĐ-TTg ngày 07/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ) góp phần cụ thể hóa mục tiêu giảm cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP ít nhất 15% vào năm 2030 so với năm 2014, hướng tới mục tiêu phát thải ròng về “0” vào năm 2050.

Đối với khu vực đô thị, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều chính sách nhằm thúc đẩy việc phát triển đô thị thông minh, xanh và bền vững, bao gồm các Quyết định phê duyệt đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018 -2025 và định hướng đến năm 2030, Quyết định phê duyệt kế hoạch phát triển đô thị tăng trưởng xanh Việt Nam đến năm 2030… Tỷ lệ đô thị có hệ thống thu gom và xử lý nước thải (60% đối với đô thị loại III, 40% đối với đô thị loại IV, V và làng nghề) cũng là những chỉ tiêu trong chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh.

Đặc biệt, tại Nghị quyết 06-NQ/TW về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Bộ Chính trị ban hành ngày 24/01/2022 là cơ sở, căn cứ chính trị quan trọng cho sự ra đời của các cơ chế, chính sách mới, tạo động lực để phát triển đô thị, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.

2.2 Một số mô hình kinh tế tuần hoàn đô thị

Năng lượng tái tạo trong đô thị

Tiềm năng KTTH cho năng lượng đô thị là rất lớn. Hệ thống năng lượng tái tạo cần được tối ưu trong quá trình sản xuất, tái chế, tái sử dụng vật liệu, thiết bị năng lượng tái tạo (thiết bị điện mặt trời áp mái). Từ đó, giảm nhu cầu vật liệu, thiết bị cũng như giảm phát thải khí nhà kính, tăng hiệu quả kinh tế, tăng việc làm. Tăng cường sử dụng vật liệu, sản phẩm carbon thấp, tuần hoàn (vật liệu, sản phẩm được khai thác, sản xuất sử dụng năng lượng xanh) cũng góp phần giảm phát thải khí nhà kính.

Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn gắn với năng lượng tái tạo không chỉ giải quyết vấn đề phát thải khí nhà kính mà còn đóng góp vào nền kinh tế. Trong đó có 3 khía cạnh: (1) tái chế các vật liệu quý hiếm được sử dụng trong sản xuất thiết bị năng lượng tái tạo; (2) sử dụng vật liệu carbon thấp, tuần hoàn; và (3) thiết kế hệ thống tuần hoàn. Vì vậy, cốt lõi của quá trình chuyển đổi năng lượng sẽ không chỉ là chuyển đổi khỏi nhiên liệu hóa thạch mà còn đảm bảo nó được thực hiện theo cách ít lạm dụng nhất có thể về tài nguyên và môi trường.

Giao thông xanh và giảm thiểu ô nhiễm không khí

Giao thông đóng vai then chốt trong đô thị và KTTH, hướng tới đô thị carbon thấp, đáng sống, năng suất (Pamucar và cộng sự, 2021). Hệ thống đô thị bền vững thân thiện môi trường đã và đang áp dụng thành công tại một số thành phố lớn ở Nhật Bản gồm bảy giải pháp đồng bộ: (1) Quan trắc và ban hành luật kiểm soát phát thải ô nhiễm không khí quanh thành phố (ví dụ tiêu chuẩn môi trường cho PM2.5); (2) Kiểm soát tai nạn giao thông giúp giảm ùn tắc; (3) Khuyến khích và phát triển mạng lưới giao thông công cộng; (4) Hệ thống chia sẻ phương tiện công cộng, ví dụ xe đạp, xe đạp điện…; (5) Hệ thống quản lý và giám sát phương tiện giao thông; (6) Hệ thống vận tải thông minh tránh kẹt xe; và (7) Giảm thiểu khí thải hiệu ứng nhà kính khi tăng sử dụng nhiên liệu sạch (biodiesel, hydrogen, xe điện).

Các giải pháp này giúp cải thiện chất lượng môi trường không khí rõ rệt khi mức ô nhiễm môi trường không khí giảm 25% so với năm 1990 và tăng chất lượng cuộc sống của người dân.

Tại Việt Nam, nhiều chính sách định hướng giao thông xanh đã được đưa ra. Trong đó, Quyết định số 355/QĐ-TTg đặt ra mục tiêu đến 2020 đặt tỷ trọng đảm nhận vận tải hành khách công cộng 25 - 30% tại các thành phố lớn. Năm 2022, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 876/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan của ngành giao thông vận tải, hướng tới mục tiêu phát thải ròng khí nhà kính về “0” vào năm 2050.

Tuy nhiên, yếu tố lượng và chất vẫn là các thách thức của đô thị. (1) Về số lượng, hiện hạ tầng cả 3 nhóm phương tiện chưa có đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng. (2) Sự đa dạng các bên liên quan tham gia vào nền kinh tế tuần hoàn vẫn chưa đảm bảo. (3) Về chất lượng, KTTH đòi hỏi cao có sự liên kết giữa các bên liên quan; tuy nhiên, đây vẫn được coi là điểm nghẽn trong quá trình quản lý và vận hành của các loại hình giao thông. (4) Trình độ kỹ thuật nhằm tối ưu hoá vòng đời phương tiện còn hạn chế.

Nông nghiệp đô thị

Nông nghiệp đô thị có vai trò quan trọng trong việc cung cấp mảng xanh và thực phẩm cho cư dân thành phố. Đóng góp của nông nghiệp đô thị liên quan đến các giải pháp KTTH cũng đã được thảo luận bởi nhiều học giả, như cung cấp không gian xanh và điều hòa khí hậu, cung cấp nguồn thực phẩm tại chỗ, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường và xử lý rác thải hữu cơ, dễ dàng tiếp cận các dịch vụ và thị trường đô thị… (Anguluri and Narayanan, 2017; Pascucci, 2020). Nông nghiệp đô thị còn đóng vai trò tạo dựng cảnh quan và làm mới không gian đô thị, đóng góp vào mục tiêu đô thị xanh và bền vững.

Cộng sinh công nghiệp

Cộng sinh công nghiệp là hoạt động hợp tác giữa các doanh nghiệp trong một khu công nghiệp hoặc với doanh nghiệp trong các khu công nghiệp khác nhằm tối ưu hóa việc sử dụng các yếu tố đầu vào, đầu ra như nguyên vật liệu, nước, năng lượng, chất thải, phế liệu... trong quá trình sản xuất kinh doanh. Thông qua hợp tác, các doanh nghiệp hình thành mạng lưới trao đổi các yếu tố phục vụ sản xuất, sử dụng chung hạ tầng và các dịch vụ phục vụ sản xuất, cải thiện quy trình công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

Mua sắm công, tiêu dùng bền vững

Để phát triển bền vững thông qua KTTH đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực bằng cách kéo dài giá trị của sản phẩm hoặc dịch vụ trong thị trường chuỗi cung ứng (EC, 2014). Nhu cầu được tạo ra thông qua tất cả các loại hình mua sắm công là rất lớn, lên tới 19% GDP trên toàn châu Âu (ERAC, 2015).

Kế hoạch Hành động của Liên minh châu Âu về KTTH đã thiết lập chương trình hành động cụ thể nhằm giúp "khép lại vòng đời" của các sản phẩm (EU, 2017). Kế hoạch này công nhận mua sắm công là động lực chính trong quá trình chuyển đổi sang KTTH, và đề ra một số hành động Ủy ban châu Âu sẽ thực hiện để tích hợp nguyên tắc tuần hoàn vào “Mua sắm công xanh” (EU, 2017).

Tại Việt Nam, chính sách và quy định về mua sắm công xanh được quy định tại Thông tư 09/2021/TT-BKHĐT của Bộ KH&ĐT vào tháng 11/2021 về hướng dẫn lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) và dự án đầu tư có sử dụng đất; Thông tư số 08/2022/TT-BKHĐT ngày 31/5/2022 của Bộ KH&ĐT về quy định chi tiết việc cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu và lựa chọn nhà thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

Do vậy, thị trường mua sắm công xanh ở Việt Nam từng bước được hình thành, các yêu cầu bảo vệ môi trường đã được đề cập trong các hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu đối với nhà đầu tư và nhà thầu. Tuy nhiên, chúng ta chưa có các tiêu chí cụ thể, cách thức lồng ghép vào các hồ sơ và đánh giá hồ sơ thầu chưa được thực hiện trong hồ sơ yêu cầu sơ tuyển cho đến hồ sơ mời thầu. Các yếu tố liên quan đến đầu vào, phân tích chi phí lợi ích mở rộng chưa được đề cập.

Thúc đẩy khởi nghiệp mô hình kinh tế tuần hoàn khu vực đô thị

Thúc đẩy khởi nghiệp tuần hoàn được xem như là một trong những một trong những giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề của đô thị. Khu vực đô thị cũng là nơi tập trung các nguồn nhân lực trình độ cao (từ các trường đại học), tài chính, có thể hỗ trợ, thúc đẩy mô hình khởi nghiệp KTTH. Theo Crecente và cộng sự (2021), khởi nghiệp tuần hoàn trực tiếp giải quyết 5 mục tiêu bền vững bao gồm: sức khỏe và có cuộc sống tốt; sản xuất và tiêu dùng bền vững; hành động về khí hậu; nước sạch và vệ sinh; tài nguyên và môi trường biển.

Tại Việt Nam, Quốc hội đã ban hành Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; Luật Đầu tư, nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Cùng với đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”; qua đó cho thấy sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Tuy nhiên, khởi nghiệp tuần hoàn trong khu vực đô thị còn hạn chế vì: (1) mức độ chấp nhận các sản phẩm tái chế của người tiêu dùng còn hạn chế; (2) chi phí đầu tư cao và lợi ích mang lại thấp trong ngắn hạn đối với doanh nghiệp; (3) cơ chế hỗ trợ tài chính xanh cho các dự án khởi nghiệp bền vững còn nhiều bất cập.

2.3 Thách thức chuyển đổi KTTH tại các đô thị Việt Nam

Thách thức triển khai KTTH đô thị bao gồm các thách thức liên quan đến văn hóa, kinh tế, cơ sở hạ tầng và hình thái đô thị, thể chế, chính trị và lãnh đạo, quy định chính sách, thông tin. Cụ thể:

(1) Về văn hóa (giá trị, thái độ, bản sắc, hành vi): Sự thay đổi về nhân khẩu học ở thành phố ảnh hưởng đến sự đa dạng của các giá trị văn hóa và thái độ đối với việc cộng đồng sản xuất năng lượng tái tạo;

(2) Về kinh tế: Nền kinh tế phụ thuộc vào tăng trưởng dựa vào tài nguyên, nhưng các chiến lược KTTH tìm cách tách tăng trưởng kinh tế khỏi tiêu thụ tài nguyên. Điều này cho thấy cần phải có sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế vĩ mô đáng kể để tạo ra các thành phố tuần hoàn. Nói cách khác, nền kinh tế mới sẽ cần hướng đến các mô hình dựa trên dịch vụ, tuần hoàn và chia sẻ, phụ thuộc hơn vào các nguồn tài nguyên tái chế và tái tạo;

(3) Về cơ sở hạ tầng và quy hoạch không gian đô thị: Không gian và cơ sở hạ tầng được chia sẻ và các thành phố được cung cấp từ các nguồn năng lượng tái tạo tốt nhất từ nguồn địa phương. Cần có không gian để sản xuất tài nguyên và điều tiết chất thải. Tính không linh hoạt của cơ sở hạ tầng hiện có có thể làm giảm khả năng thích ứng của thành phố và tiềm năng thay thế, lặp lại, nội địa hóa, chia sẻ, tái tạo và tối ưu hóa. Không những thế, hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị (nước, năng lượng, giao thông, chất thải) có xu hướng tuyến tính và không kết nối. Điều này ngăn cản việc tái chế, tái sử dụng hoặc thu hồi chất thải từ hệ thống này như một nguồn tài nguyên cho hệ thống khác;

(4) Về chính trị, lãnh đạo và thể chế: Các chu kì chính trị thường ngắn và chính sách thương xuyên thay đổi. Thiếu một tầm nhìn chính trị dài hạn sẽ là thách thức cho việc chuyển đổi và là thách thức đối với triển khai KTTH;

(5) Về thông tin: khả năng truy cập thông tin dữ liệu hạn chế cũng như hiếu nền tảng chia sẻ dữ liệu để trao đổi thông tin và phát triển KTTH và kiến thức về loại dữ liệu nào cần thiết để thiết kế, thực hiện, giám sát các chiến lược KTTH.

3. Kết luận

Phát triển bền vững đô thị đã và đang là một thách thức trên toàn cầu về kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên, các thành phố lại là nơi có những điều kiện thuận lợi và có tiềm năng, lợi thế để tạo ra sự thay đổi tích cực, góp phần vào sự phát triển bền vững chung của quốc gia nếu có thể áp dụng các mô hình và giải pháp phù hợp. Mô hình KTTH đã và đang được sự quan tâm và được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau ở khắp nơi trên thế giới phục vụ phát triển bền vững đô thị.

PGS.TS Nguyễn Hồng Quân* 
cùng cộng sự*
* *PGS.TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn (ICED), ĐHQG TP.HCM; Trung tâm Quản lý nước và biến đổi khí hậu (WACC), Viện MT và TN (IER), ĐHQG TP.HCM 

Tài liệu tham khảo

- Cho, E.J. (2018) “Transforming a neighborhood into a Living Laboratory for Urban Social Innovation: A comparative case study of urban living labs,” LTransforming a Neighborhood into a Living Laboratory for Urban Social Innovation: A Comparative Case Study of Urban Living Labs [Preprint]. Available at: https://doi.org/10.1007/978-3-319-92252-2_22.

- Crecente, F., Sarabia, M. and del Val, M., 2021. Sustainable Entrepreneurship in the 2030 Horizon. Sustainability, 13(2), p.909.

- CSCP, 2020. The Collaborating Centre for Sustainable Consumption and Production (CSCP). Circular Economy Guidebook for Cities. 2020 [cited 2021 March 15]; Available from: https://circulareconomy.europa.eu/platform/sites/default/files/circular_cities_publication.pdf.

- EC, 2014. Towards a Circular Economy: A Zero Waste Programme for Europe. COM (2014). Brussels: European Commission, p. 398 final/2. Ellen Macarthur Foundation (2017), Cities in the circular economy: An initial exploration.

- EMF, 2015. Ellen Macarthur Foundation (EMF), Growth Within: A Circular Economy Vision for a Competitive Europe. 2015: Cowes, UK.

- EMF, 2017. Ellen Macarthur Foundation (EMF), Cities in the circular economy: An initial exploration. 2017.

- ERAC Opinion on Innovation Procurement. European Research Area And Innovation Committee, Brussels. ERAC 1209/15. European Union. 2017. PUBLIC PROCUREMENT FOR A CIRCULAR ECONOMY - Good practice and guidance. Available at: https://environment.ec.europa.eu/strategy/circular-economy-action-plan_en (Accessed: October 31, 2022).

- Gravagnuolo, A., M. Angrisano, and L. Fusco Girard. 2019. “Circular Economy Strategies in Eight Historic Port Cities: Criteria and Indicators Towards a Circular City Assessment Framework.” Sustainability 11 (13): 3512–3536. doi:10.3390/su11133512.

- Heinisch, V., Göransson, L., Erlandsson, R., Hodel, H., Johnsson, F., & Odenberger, M. (2021). Smart electric vehicle charging strategies for sectoral coupling in a city energy system. Applied Energy, 288, 116640.

- IRP, 2018. Re-defining Value – The Manufacturing Revolution. Remanufacturing, Refurbishment, Repair and Direct Reuse in the Circular Economy. 2018: Nairobi, Kenya.

- Korhonen, J., et al. 2018, Circular economy as an essentially contested concept. Journal of cleaner production, 2018. 175: p. 544-552.

- Long, N.V, & Cheng, Y. (2018). Urban Landscape Design Adaption to Flood Risk: A Case Study in Can Tho City, Vietnam. Environment and Urbanization ASIA, 9(2), 138–157. https://doi.org/10.1177/0975425318783587 Pamucar, D., Deveci, M., Gokasar, I., Işık, M., & Zizovic, M. (2021). Circular - economy concepts in urban mobility alternatives using integrated DIBR method and fuzzy Dombi CoCoSo model. Journal of Cleaner Production, 323, 129096.

- Ramesh Anguluri and PriyaNarayanan, 2017. Role of green space in urban planning: Outlook towards smart cities. Urban Forestry & Urban Greening. Volume 25, July 2017, Pages 58-65.

- Rashmi Maria Royston and Pavithra M.P, 2018. Vertical farming: a concept. International Journal of Engineering and Techniques - Volume 4 Issue 3, May 2018.

- Redmond Ramin Shamshiri, Fatemeh Kalantari, K. C. Ting, Kelly R. Thorp, Ibrahim A. Hameed, Cornelia Weltzien, Desa Ahmad, Zahra Mojgan Shad, 2018. Advances in greenhouse automation and controlled environment agriculture: A transition to plant factories and urban agriculture. Int J Agric & Biol Eng, 2018; 11(1): 1–22.

- Schaper, M., 2016. Making Ecopreneurs: Developing Sustainable Entrepreneurship; CRC Press: London, UK; New York, NY, USA; ISBN 9780566088759.

- Shenzen (2016), International Low Carbon city. Truy cập https://www.kankyo.metro.tokyo.lg.jp/en/int/c40/c40_pse_r.files/UEII_Chapter3.6_Shenzhen.pdf (ngày 30/11/2021).

- Shenzhen Municipal Transportation Committee; Shenzhen Development and Reform Commission; Shenzhen Planning and Land Resources Committee (2017). Notice on Printing and Distributing the 13th Five-Year Plan for Comprehensive Transportation Plan in Shenzhen. Truy cập tại http://www.sz.gov.cn/zfgb/ 2017/gb998/201703/t20170327_6096630.htm# (ngày 30/11/2021).

- Stefano Pascucci, 2020. Building natural resource networks: urban agriculture and the circular economy. In book: Achieving sustainable urban agriculture (pp.101-120).

- Testa, F., Iraldo, F., Frey, M., Daddi, T., 2012. What factors influence the uptake of GPP (green public procurement) practices? New evidence from an Italian survey. Ecological Economics 82 (0), 88–96. https://doi.org/10.1016/j. ecolecon.2012.07.011. ERAC, 2015.

- UN, 2014. United Nations (UN), D.o.E. and P.D. Social Affairs, World Urbanization Prospects: The 2014 Revision,(ST/ESA/SER. A/366). United Nations Population Division, 2015.

- United Nations (2015), D.o.E. and P.D. Social Affairs, World Urbanization Prospects: The 2014 Revision, (ST/ESA/SER. A/366). United Nations Population Division.

- WHO, 2018. World Health Organization (WHO), Circular Economy and Health: Opportunities and Risk. World Health Organization Regional Office for Europe: Copenhagen, Denmark, 2018.

**Các cộng sự: Từ Minh Thuận, Học viện Cán bộ TP.HCM; Trường ĐH Quốc tế, ĐHQG TP.HCM; Đỗ Thị Hiệp, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn (ICED), ĐHQG TP.HCM; Khoa Quản lý Công nghiệp và Năng lượng, Trường ĐH Điện lực; Trương Thị Ái Nhi, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn (ICED), ĐHQG TP.HCM; Đại học Tohoku, Nhật Bản; Nguyễn Bảo Trân, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn (ICED), ĐHQG TP.HCM; Lê Bá Nhật Minh, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn (ICED), ĐHQG TP.HCM; Nguyễn Minh Tú, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn (ICED), ĐHQG TP.HCM; Nguyễn Kiều Lan Phương, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn (ICED), ĐHQG TP.HCM; Khoa Kỹ thuật Thực phẩm và Môi trường, Trường ĐH Nguyễn Tất Thành.

Bạn đang đọc bài viết Kinh tế tuần hoàn trong xu thế phát triển bền vững đô thị. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0912 345 014 Hoặc email: [email protected]

Theo m.tapchixaydung.vn

Cùng chuyên mục

Tin mới

Cơ hội phát triển của sâm núi Dành
Thời gian gần đây, sản phẩm sâm núi Dành đã được chế biến sâu, mẫu mã bao bì hấp dẫn giúp gia tăng giá trị, hiệu quả kinh tế. Dịp Tết vừa qua, sâm núi Dành được tiêu thụ mạnh trên thị trường, mở ra cơ hội phát triển.