Hà Nội, Thứ Ba Ngày 18/02/2020

Đà Nẵng: Phát triển kinh tế biển gắn với tăng trưởng xanh

Tâm An, 13:51 20/10/2019

Ngày 19/10, tại Đà Nẵng, Bộ NN&PTNT và IUCN tổ chức hội nghị “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam nhằm phát triển bền vững kinh tế biển gắn với tăng trưởng xanh"...

Ngày 19/10, tại TP Đà Nẵng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với UBND TP Đà Nẵng và Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN tổ chức Hội nghị "Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam nhằm phát triển bền vững kinh tế biển gắn với tăng trưởng xanh".

Tham dự Hội nghị có đại diện các Bộ NN&PTNN và các đơn vị liên quan, Chi cục thủy sản các tỉnh/thành phố ven biển; Ban quản lý các Khu bảo tồn và Vườn quốc gia: Bái Tử Long, Cát Bà, Vịnh Hạ Long, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Núi Chúa, Hòn Cau, Côn Đảo, Phú Quốc; Các tổ chức quốc tế, phi chính phủ tại Việt Nam: UNDP, IUCN, WWF, TRAFFIC, ENV, MCD; các chuyên gia trong cùng lĩnh vực.

Ông Nguyễn Quang Hùng - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản cho biết, biển Việt Nam nằm trong vùng có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) khá cao, với hơn 11.000 loài sinh vật được phát hiện. Tính đa dạng về cảnh quan tự nhiên và nguồn lợi thủy sản là thế mạnh của Việt Nam trong phát triển ngành kinh tế biển nói chung và kinh tế thủy sản nói riêng và đặc biệt là thiết lập các Khu bảo tồn biển.

Năm 2018, tổng sản lượng thủy sản nước ta đạt khoảng 7,74 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành đạt 9 tỷ, góp phần quan trọng đối với phát triển kinh tế đất nước, góp phần cải thiện sinh kế, ổn định đời sống người dân các tỉnh ven biển.

Ông Nguyễn Quang Hùng - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản phát biểu tại Hội nghị.

uy nhiên, ngành thủy sản Việt Nam cũng đang đối mặt với rất nhiều khó khăn từ sức ép kinh tế như: phát triển du lịch biển, tình trạng khai thác thủy sản bất hợp pháp vẫn còn diễn ra, sử dụng chất nổ, xung điện, hóa chất cấm, chất độc, ngư cụ cấm để khai thác thủy sản, tình trạng ô nhiễm môi trường biển… nhưng chưa quan tâm đến công tác bảo tồn biển đã trực tiếp hoặc gián tiếp làm suy giảm nhanh nguồn lợi thủy sản tự nhiên và suy thoái các hệ sinh thái biển.

Sau gần 10 năm triển khai Quyết định 742/QĐ-TTg ngày 26/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ, hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đang dần được hình thành và đi vào hoạt động, công tác bảo tồn biển được duy trì tạo điều kiện cho mục tiêu phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên theo đánh giá của Bộ NN&PTNN, công tác bảo tồn biển tại Việt Nam còn rất hạn chế do nhiều nguyên nhân.

Đặc biệt, việc khai thác hoạt động du lịch, tận diệt hải sản thiếu sự giám sát chặt chẽ từ cơ quan quản lý đã và đang tác động rất lớn gây hệ quả nghiêm trọng đối với thiên nhiên biển, từng bước làm suy giảm chất lượng của các hệ sinh thái dưới nước. Điển hình phải kể đến các địa phương Lý Sơn, Cù Lao Chàm, Phú Quốc là những điểm rất “nóng” và điển hình về việc khu bảo tồn biển (KBTB) bị ảnh hưởng bởi sự phát triển của các cơ sở du lịch.

Ô nhiễm môi trường ven biển từ rác thải du lịch - đặc biệt là rác thải nhựa, đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, các hoạt động nhấn chìm gần khu vực bảo tồn biển... đang trở thành vấn đề cấp bách.

Tại hội nghị, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cho rằng, ô nhiễm, suy thoái môi trường biển đã ảnh hưởng trực tiếp đến cơ sở nguồn lợi của các khu bảo tồn biển nước ta. Đặc biệt là ô nhiễm rác thải nhựa, túi ni lông ở nước ta hiện nay rất nghiêm trọng, lượng chất thải nhựa và túi ni lông vẫn ở mức rất cao, chiếm tới 8 – 12% trong chất thải rắn sinh hoạt, lắng động và quấn vào các rạn san hô ở các khu bảo tồn biển. Khiến các rạn san hộ của Việt Nam đang biến độ theo chiều hướng xấu, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững nghề cá biển nước ta.

Được biết, khu bảo tồn biển được xem là công cụ quản lý hữu hiệu để bảo toàn tính bền vững của các vùng biển và các ngành kinh tế biển dựa vào nguồn lợi tự nhiên như nghề cá, du lịch và các dịch vụ đi kèm. Quản lý Khu bảo tồn biển hiệu quả sẽ góp phần lớn thực hiện chiến lược Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030.

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, cho rằng để bảo tồn có hiệu quả các khu bảo tồn biển, cần phải nỗ lực cải thiện sinh kế cho cộng đồng dân cư sống trong và lân cận khu bảo tồn biển để họ tham gia chủ động hơn vào việc quản lý khu bảo tồn biển, ủng hộ ban quản lý trong thực hiện kế hoạch quản lý, góp phần giảm sức ép khai thác tài nguyên, nguồn lợi thủy sản.

“Để bảo tồn biển, phát triển nghề cá bền vững thì phải duy trì được nguồn vốn tự nhiên biển, bảo tồn biển, bảo vệ môi trường biển, phát triển kinh tế biển hiệu quả, thực hiệp pháp luật tốt, truyền thông giáo dục nâng cao nhận thức.”, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, chia sẻ.

Quang cảnh buổi hội nghị.

Ông Jacob Brunner – Giám đốc điều hành IUCN khu vực Đông Nam Á đánh giá, chỉ có 2/10 khu bảo tồn có Ban quản lý hoạt động hiệu quả. Cũng theo ông Jacob Brunner, tại Việt Nam, khu vực bảo vệ bảo tồn nghiêm ngặt rất nhỏ, khoảng dưới 1 % diện tích, trong khi đó theo tiêu chuẩn quốc tế là 30% diện tích. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến việc bảo tồn các loài sinh vật.

Trong quá trình nghiên cứu, IUCN phát hiện một trong những yếu tố làm cản trở sự quản lý hiệu quả tài nguyên sinh vật biển không phải đều bắt nguồn từ sự thiếu thốn nguồn vốn hay cơ sở vật chất mà là do sự không đồng ý của cộng đồng người dân. Có những cộng đồng người dân dù hiểu biết về bảo tồn biển nhưng vẫn không đồng ý tham gia vào khu bảo vệ nghiêm ngặt này, nguyên nhân là do một số ngư dân đã mang tàu thuyền đến đánh bắt bất hợp pháp và chính quyền chưa có hành động nào để ngăn chặn việc đánh bắt trái phép này.

“Các khu bảo tồn biển ở Việt Nam chỉ dành 1% diện tích bảo vệ nghiêm ngặt, trong khi đó quy định thế giới phải là 30%. Đây là 1 sự đáng tiếc vì khi bảo tồn biển hiệu quả sẽ đóng góp lớn cho việc bảo vệ hệ sinh thái biển, phát triển bền vững ngành kinh tế thủy sản. Mặc dù, công tác bảo tồn biển gặp nhiều thách thức này rất khó nhưng IUCN sẽ đồng hành cùng Việt Nam để thành lập những khu bảo tồn biển một cách hiệu quả. Hiện nay chúng tôi cũng hỗ trợ khu bảo tồn Cù Lao Chàm tăng diện tích từ 0,5% - 10%”, đại diện IUCN, nói.

Còn PGS.TS Võ Sĩ Tuấn – Nguyên Viện trưởng Viện hải dương học Nha Trang, Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam thì cho rằng phải có sự phát hiển hài hòa giữa kinh tế và bảo tồn biển, kiểm soát tình trạng khai thác nguồn lợi quá mức; tính đến sức tải của các hệ sinh thái du lịch.

Đồng thời, PGS.TS Võ Sĩ Tuấn, kiến nghị việc cần làm là phải thiết lập các vùng không khai thác sử dụng thực sự trong các Khu bảo tồn biển nhằm duy trì và bảo tồn các loài quý hiếm, duy trì tài nguyên cho khai thác thủy sản bền vững và hoạt động du lịch địa phương.

"Việc bảo vệ các bãi đẻ, ương giống của các loài nguồn lợi cũng cần được coi trọng và thiết lập. Và trên hết cần có cơ chế và biện pháp thực thi để doanh nghiệp và cộng đồng đồng quản lý và sử dụng tài nguyên”, PGS.TS Võ Sĩ Tuấn, đề xuất.

Loading...
Bạn đang đọc bài viết Đà Nẵng: Phát triển kinh tế biển gắn với tăng trưởng xanh tại chuyên mục Tài nguyên. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0912 345 014 - 0917 681 188 Hoặc email: bandientu.mtdt@gmail.com
Tin cùng chuyên mục Tài nguyên