Hà Nội, Thứ Sáu Ngày 05/06/2020

Nước sạch cho đồng bằng sông Cửu Long: Góc nhìn của người bản địa

Mtđt, 14:51 11/05/2020

Không nên vội vàng đổ lỗi cho biến đổi khí hậu để rồi tiếp tục đề xuất xây dựng thêm những công trình ngăn mặn giữ ngọt lớn hơn.

“Làm sao đủ nước?”, câu hỏi này luôn được người dân đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đặt ra đầu tiên trước mọi quyết định của mình. Dân thương hồ rày đây mai đó thì trên ghe luôn có hai cái khạp, một để đựng nước uống, một để đựng nước nấu ăn; còn giặt giũ hay tắm gội thì cứ ùm xuống sông cho tiện. Trước mỗi chuyến đi, tùy theo dự tính đi bao nhiêu ngày và có bao nhiêu người trên ghe mà người dân chuẩn bị đầy đủ nước để uống.

Rồi khi lên bờ và đã chọn một nơi nào đó để định cư, thì ngoài việc tính toán hứng đủ nước mưa để uống; nước nấu ăn, nước tắm giặt ở đâu, thì còn phải tính thêm nước để sản xuất. Vì vậy, đi đến bất kỳ nơi nào ở ĐBSCL, chỉ cần nhìn hàng lu kiệu chứa nước mưa ở bên cạnh nhà là có thể đoán nhà đó bao nhiêu người hay mùa khô nơi đó dài hay ngắn.

Sống hòa thuận với tự nhiên

Vì ĐBSCL là vùng đất trũng thấp nên khi định cư, đầu tiên người dân đào một cái ao, lấy đất đắp nền nhà. Cái ao đó vào mùa khô dùng giữ nước ngọt, nước cũng phải múc vào lu khạp, lóng phèn rồi mới sử dụng để nấu ăn, vì vậy mà người dân gọi đó là ao rửa ăn.

Tình trạng khô hạn ở miền Tây ngày càng khốc liệt. Ảnh: Lê Thế Thắng

Ở vùng sông sâu nước chảy thì ao rửa ăn thông ra sông rạch bằng cái bọng làm từ thân cây cau. Bắt đầu mùa khô thì đặt cái nắp quạt phía bên trong ao, để cho nước lớn chảy vô rồi giữ lại bên trong, nên luôn đầy đủ nước để xài.

Vùng ven biển thì vào mùa khô nước trên sông rạch phần lớn là nước mặn, nên ngoài cái ao rửa ăn cạnh bên nhà người dân còn đào thêm những cái đìa sâu bên trong ruộng, vừa để giữ nguồn nước ngọt, vừa là nơi chứa cá đồng. Năm nào hạn hán kéo dài, thì buộc phải gánh nước trong đìa về nhà để nấu ăn.

Ở cấp cộng đồng thì nhờ quy tụ được số đông nên người ta đào những cái ao hay hồ lớn hơn, lấy đất đắp nền cho những công trình công cộng như đền miếu hay chùa chiền. Những ao hồ này cũng làm nhiệm vụ giữ nguồn nước ngọt cho cả cộng đồng một khi nguồn nước ngọt dự trữ tại mỗi nhà không còn. Ao Bà Om ở Trà Vinh, hồ nước ngọt ở Sóc Trăng, Cà Mau là những ví dụ. Riêng việc tính toán cho nước dùng để sản xuất thì phải theo dõi xem con nước thay đổi ra sao trong ngày, trong tháng và trong năm. Dựa vào sự thay đổi của nguồn nước mà người dân chọn loại cây trồng vật nuôi, tính toán thời điểm xuống giống và thu hoạch để né những giai đoạn mà chất lượng và số lượng nguồn nước không đáp ứng tốt.

Như vậy người dân đã biết dựa vào nguồn nước mưa để uống, nước mặt để nấu ăn tắm gội giặt giũ; việc sản xuất thì dựa vào con nước lớn nước ròng, hay lúc nước mặn nước lợ, để chọn giống cho phù hợp, phát triển thêm kỹ thuật canh tác và quản lý đồng ruộng, điều chỉnh mùa vụ sớm hay muộn để tránh những giai đoạn mà nguồn nước không thuận lợi. Như mô hình lúa - tôm, mùa nắng thì lấy nước mặn vào ruộng nuôi tôm hay cua cá, mùa mưa thì xổ mặn và trồng lúa. Năm nào mùa khô kéo dài và mùa mưa đến trễ thì độ mặn trong đất còn cao nên người dân chọn giống chịu mặn ngắn ngày, kỹ thuật canh tác thì gieo mạ trên liếp rồi chờ bớt mặn mới nhổ cấy xuống ruộng.

Qua thời gian sống và thích nghi trên những vùng khác nhau, người dân đã chọn lựa ra hàng trăm giống cây trồng, vật nuôi với vô số kinh nghiệm từ làm đất, giữ nước, kê liếp rỏ mặn, hay tiêu úng xổ phèn. Những con người tiên phong đó cùng với kho tri thức bản địa quý báu tích cóp trong quá trình sản xuất góp phần hình thành nên một ĐBSCL trù phú.

Hệ lụy từ sự can thiệp thô bạo

Suốt nửa thế kỷ qua, vùng đất tranh chấp mặn ngọt này đã chứng kiến nhiều sự thay đổi. Những thay đổi đó cũng nhằm mục tiêu mưu cầu cho người dân được khá giả hơn. Bắt đầu bằng những công trình lớn như đê biển, kênh mương dẫn ngọt, cống đập ngăn mặn nhằm chuyển dịch một nền sản xuất cổ truyền sang hiện đại. Như thay đổi giống cây trồng vật nuôi, thêm nguồn phân bón hóa học, thuốc sâu thuốc bệnh, tưới tiêu chủ động bằng những trạm bơm và hệ thống mương nổi mương chìm.

Chúng ta cần phải rà soát lại một cách nghiêm túc vì sao những gì đã làm nhằm bảo đảm nguồn nước sinh hoạt và sản xuất cho vùng này không phát huy tác dụng? Không nên vội vàng đổ lỗi cho biến đổi khí hậu để rồi tiếp tục đề xuất xây dựng thêm những công trình ngăn mặn giữ ngọt lớn hơn.

Tập quán sống và canh tác của người dân cũng dần thay đổi. Nước từ nhà máy thay thế hoàn toàn nước mưa để uống, nước mặt để nấu ăn tắm giặt nên gộp chung thành nước sinh hoạt; nước sản xuất thì dựa vào sự vận hành kênh mương cống đập, không đủ thì khoan giếng cạn, giếng sâu khai thác nguồn nước ngọt hiếm hoi có sẵn trong đất.

Một hệ lụy tất yếu là người dân không còn chờ trời nắng, trời mưa để hứng nước uống; không còn canh con nước lớn nước ròng để lấy nước vô ao, vô đìa nấu ăn tắm giặt, xem lúc nước mặn nước lợ để chọn giống cây trồng vật nuôi, chọn quy trình canh tác và điều chỉnh mùa vụ sớm hay muộn.

Tuy nhiên, năm nay do mùa mưa dứt sớm, người dân các tỉnh duyên hải như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang đối mặt với chuyện thiếu nước uống, nấu ăn, tắm giặt và kể cả nước sản xuất. Như vậy, có gì đó thật sự chưa ổn đối với hàng chục nhà máy cung cấp nước sinh hoạt, hàng trăm đê bao cống đập ngăn mặn, hàng ngàn cây số kênh đào và hàng chục ngàn giếng cạn, giếng sâu đã đầu tư xây dựng trong suốt thời gian qua!

Đừng quên “thuận thiên”

Chúng ta cần phải rà soát lại một cách nghiêm túc vì sao những gì đã làm nhằm bảo đảm nguồn nước sinh hoạt và sản xuất cho vùng này không phát huy tác dụng? Không nên vội vàng đổ lỗi cho biến đổi khí hậu để rồi tiếp tục đề xuất xây dựng thêm những công trình ngăn mặn giữ ngọt lớn hơn.

Bài toán nước sạch cũng cần phải có đáp số khi quy hoạch khu dân cư. Ảnh: Lê Thế Thắng

Việc rà soát này hãy bắt đầu bằng cách hỏi xem có bao nhiêu người đã tự hỏi “làm sao đủ nước?” trước khi quyết định ra định cư ở vùng ven biển. Và nếu bản thân họ chưa chuẩn bị lu kiệu để hứng nước mưa; chưa chuẩn bị đào ao, đào đìa để giữ nước mặt, thì xem như mục tiêu bảo đảm nguồn nước sinh hoạt cho cộng đồng đã bị “thất thủ” từ vòng một.

Kế đến là xem các cấp chính quyền địa phương có quy hoạch khu dân cư không? Nếu có thì ắt phải có hạ tầng nước sạch, còn nếu chưa, thì với mật độ dân cư đông đúc và chính sách hợp lý thì cũng sẽ có người đầu tư hệ thống cung cấp nước sạch. Lúc này việc dẫn đường ống cấp nước, đào hồ chứa, khoan giếng hoặc xây nhà máy lọc nước biển thành nước ngọt cũng trở nên dễ dàng hơn, miễn là có hiệu quả kinh tế. Còn nếu người dân vẫn ở rải rác như hiện nay và cũng không có quy hoạch cụm tuyến dân cư, thì xem như mục tiêu cung cấp đầy đủ nước sinh hoạt cho cả vùng duyên hải đã bị “vỡ trận” ở vòng hai.

Rồi mọi người từ cấp nông hộ, địa phương đến trung ương cũng phải xem cây trồng, vật nuôi đang sản xuất có “thuận thiên” chưa? Đưa một giống cây con không có khả năng chịu mặn vào một vùng thường xuyên bị ảnh hưởng mặn, thì chỉ làm tăng rủi ro trong tương lai, dẫn đến hao tiền tốn của người dân và lãng phí nguồn lực của xã hội. Điều này nên được tư duy lại theo dạng đầu tư kinh tế, ví như việc xây một công trình ngăn mặn hay trữ ngọt thì phải tính cho sản xuất cái gì và trong bao lâu sẽ thu hồi đủ vốn.

Cuối cùng cũng cần tìm hiểu xem vì sao người dân phải ra vùng còn nhiều khó khăn như vậy để định cư? Và nếu họ đến nơi đây không phải để “làm giàu”, mà để “sống qua ngày” thì nên hiểu vấn đề cần giải quyết không phải chỉ đơn giản là “thiếu nước”!

Theo Dương Văn Ni/Báo Người Đô thị

Loading...
Bạn đang đọc bài viết Nước sạch cho đồng bằng sông Cửu Long: Góc nhìn của người bản địa tại chuyên mục Nước. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0912 345 014 - 0917 681 188 Hoặc email: bandientu.mtdt@gmail.com
Tin cùng chuyên mục Nước