Hà Nội, Thứ Tư Ngày 25/11/2020

Tình trạng xử lý nước thải ở Việt Nam

PV (T/h), 16:53 20/11/2020

Thống kê của Bộ Xây dựng, cả nước hiện có 43 nhà máy xử lý nước thải đô thị tập trung với tổng công suất thiết kế trên 926.000 m3/ngày đêm. Tuy nhiên tỷ lệ nước thải được xử lý chỉ đạt khoảng 13%.

Những vướng mắc trong quá trình xử lý nước thải:

Những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá của Việt Nam rất nhanh chóng. Điều này trở thành một thách thức lớn trong việc xử lý nước thải đô thị. Việt Nam hiện có hơn 800 đô thị nhưng do điều kiện kinh tế còn khó khăn nên việc đầu tư vào hệ thống kỹ thuật hạ tầng đô thị nói chung cũng như hệ thống cấp thoát nước đô thị nói riêng còn nhiều hạn chế. Hạ tầng kỹ thuật xử lý nước thải thiếu hụt dẫn tới tình trạng nước thải đô thị chưa qua xử lý được xả thẳng ra môi trường đe doạ môi trường và trở thành khó khăn lớn cho các đô thị Việt Nam

Theo Bộ Xây dựng, cả nước hiện có 43 nhà máy xử lý nước thải đô thị tập trung đang vận hành, tổng công suất thiết kế trên 926.000 m3/ngày đêm, nhưng tỷ lệ nước thải được thu gom, xử lý chỉ đạt khoảng 13%.

Bộ Xây dựng dẫn thông tin thống kê của UBND TP.Hà Nội cho biết, hiện thành phố này có khoảng hơn 5.700 km cống rãnh; hơn 250 km mương, sông, kênh; hơn 40.000 ga thu; hơn 110 ga thăm các loại; 125 hồ điều hòa; 10 trạm bơm thoát nước mưa chính…

Trong khi đó, Hà Nội có 6 nhà máy xử lý nước thải đã đưa vào hoạt động, gồm: Kim Liên (công suất 3.700 m3/ngày đêm), Trúc Bạch (công suất 2.300 m3/ngày đêm), Bảy Mẫu (công suất 13.300 m3/ngày đêm), Yên Sở (công suất 200.000 m3/ngày đêm), Bắc Thăng Long - Vân Trì (42.000 m3/ngày đêm), Hồ Tây (15.000 m3/ngày đêm). Tuy nhiên, các nhà máy xử lý nước thải này chỉ xử lý được 22% số lượng nước thải ra hằng ngày, còn tới 78% vẫn đang được xả thẳng ra môi trường.

UBND TP. Hà Nội cũng thừa nhận tiến độ thực hiện các dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải còn kéo dài và số dự án cần thực hiện vẫn chưa đáp ứng được Kế hoạch số 189/KH-UBND ngày 30/12/2013 đề ra (còn 12 dự án cần được triển khai thực hiện). Bên cạnh đó, việc thực hiện Quy hoạch thoát nước thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 còn nhiều khó khăn. Các công trình đầu mối, hạng mục ưu tiên đầu tư nhưng chưa được triển khai do vốn đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước rất lớn, việc kêu gọi xã hội hóa gặp nhiều khó khăn.

Nước thải đô thị cũng là vấn đề nhức nhối của TP. Hồ Chí Minh. Báo cáo của thành phố này cho biết, ước tính lượng nước thải từ sinh hoạt đô thị phát sinh khoảng 1.579.000 m3/ngày đêm. Hiện thành phố đang vận hành 3 nhà máy xử lý nước thải đô thị tập trung với tổng công suất 302.000 m3/ngày đêm gồm: Bình Hưng giai đoạn 1 (công suất 141.000 m3/ ngày đêm), Bình Hưng Hòa (công suất 30.000 m3/ ngày đêm), Tham Lương - Bến Cát (công suất 131.000 m3/ngày đêm).

Nếu tính lượng nước thải được xử lý cục bộ tại khu dân cư mới, chung cư, công nghiệp, thương mại - dịch vụ (không bao gồm nước thải từ khu công nghiệp) thì tổng lượng nước thải thu gom xử lý của toàn thành phố là 370.624 m3/ngày đêm (đạt tỷ lệ 21,2%). Hiện nay TP. Hồ Chí Minh tiếp tục huy động mọi nguồn lực triển khai các dự án nhà máy xử lý nước thải đô thị tập trung. Dự báo, trong điều kiện cuối năm 2020, nếu hoàn thành 3 nhà máy thì 80% lượng nước thải sinh hoạt đô thị của thành phố sẽ được thu gom, xử lý.

Những dữ liệu của TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã phần nào chỉ ra thực trạng xử lý nước thải đô thị ở Việt Nam.

Đánh giá hoạt động quản lý nước thải đô thị ở Việt Nam, Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết, mặc dù 60% hộ gia đình Việt Nam đấu nối xả nước thải vào hệ thống thoát nước công cộng, nhưng hầu hết nước thải được xả thẳng ra hệ thống tiêu thoát nước bề mặt và chỉ có 10% lượng nước thải được xử lý. Trong khi 90% hộ gia đình xả nước thải vào bể tự hoại, chỉ 4% lượng phân bùn được xử lý. Mức thiệt hại kinh tế do vệ sinh kém ước tính là khoảng 780 triệu Đô la Mỹ mỗi năm, tương đương 1,3% GDP.

Bên cạnh đó, khả năng thu hồi chi phí đầu tư xây dựng, chi phí vận hành và bảo dưỡng hệ thống xử lý nước thải nhìn chung còn thấp. Các đơn vị chịu trách nhiệm thoát nước và xử lý nước thải lại có quyền tự chủ rất hạn chế trong hoạt động quản lý vận hành và phát triển hệ thống.

Trong những năm tới, Việt Nam có nhu cầu vốn đầu tư rất cao, dự kiến cần tới 8,3 tỉ đô la Mỹ để cung cấp dịch vụ thoát nước cho khoảng 36 triệu dân đô thị vào năm 2025.

PGS - TS Nguyễn Việt Anh, Viện trưởng Viện Khoa học và Kỹ thuật môi trường (IESE), cho biết: “Thách thức lớn trong thoát nước đô thị là việc đấu nối xả nước thải của các hộ gia đình vào mạng lưới thoát nước thành phố. Hầu hết các dự án thoát nước nguồn vốn ODA đều không có hợp phần này. Sau dự án, việc đầu tư của chính quyền đô thị hay cộng đồng cho việc đấu nối là rất khó thực hiện được. Vì thế, việc lựa chọn sơ đồ tổ chức thoát nước, công nghệ thu gom, xử lý nước thải, mô hình tổ chức quản lý vận hành, đấu nối hộ gia đình, đảm bảo bù đắp chi phí vận hành và bảo dưỡng hệ thống thoát nước… là các vấn đề cần lưu tâm trong xử lý nước thải đô thị. Tùy điều kiện cụ thể, chúng ta có thể áp dụng mô hình khác nhau nhưng mục đích chung vẫn là tính hiệu quả trong xử lý nước thải đô thị để giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước”.

Cũng theo PGS - TS Nguyễn Việt Anh, việc đầu tư cũng như quản lý hạ tầng kỹ thuật xử lý nước thải đô thị ở Việt Nam hiện nay đang đối mặt với rất nhiều thách thức từ chính sách pháp luật, nguồn vốn, công nghệ cho tới ý thức tự nguyện của người dân.

Ngoài ra, có một nghịch lý chung đối với các địa phương là hầu như các sông lớn nhỏ, kênh, rạch, ao hồ đều rơi vào tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng thì nhiều nhà máy xử lý nước thải vận hành chưa hiệu quả để phù hợp với công suất thiết kế. Chưa kể nước thải từ các KCN, CCN, làng nghề, nước thải sinh hoạt hoặc thậm chí nước mưa dẫn chung về nhà máy mà gây ra nhiều thách thức lớn trong suốt quá trình xử lý môi trường.

Ảnh minh hoạ (Nguồn: Internet)

89% hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn môi trường

Tuy còn nhiều vướng mắc và bất cập trong tình trạng xử lý nước thải ở nước ta hiện nay nhưng về các chỉ số môi trường trong năm 2019 đã có sự chuyển biến tích cực và kết quả khả quan hơn so với năm 2018. Trong đó có đến 89% KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung với nguồn nước sau xử lý đảm bảo đạt chuẩn và 78,3% (tăng 70 KCN) có lắp đặt thiết bị quan trắc tự động liên tục.

Đối với nhiệm vụ xử lý nước thải sinh hoạt tăng 1% và thu gom xử lý đạt 13%. Chất thải rắn được thu gom đến 86,5% và tỷ lệ các cơ sở ô nhiễm được xử lý đạt 66,4%.

Bên cạnh đó, ở TP.HCM có 4.200/4.335 cơ sở sản xuất công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải (chiếm 96%). Đối với công tác xử lý nước thải trong ngành y tế có 100% bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải với tỷ lệ thu gom đạt 98,94%. Nhờ vậy mà giảm bớt lượng nước thải ô nhiễm ra môi trường.

Xây dựng chính sách hỗ trợ và thúc đẩy phát triển dịch vụ xử lý nước thải

Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, tạo cơ hội thúc đẩy phát triển cho hoạt động xử lý nước thải. Ngoài ra các đô thị cũng đã và đang đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện nhiều dự án nhà máy xử lý nước thải như ở Hà Nội dự kiến triển khai 12 dự án xử lý nước thải với vốn đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước lớn.

Còn ở TP.HCM cũng cho xây dựng 2 đường ống dọc bờ sông Sài Gòn để thu gom nước thải và đồng thời nghiêm cấm các hành vi xả thải trái phép. Thành phố cũng đang tiếp tục huy động nguồn vốn đầu tư và nhiều nguồn lực khác nhằm hoàn thiện các dự án nhà máy xử lý nước thải đô thị tập trung. Trong đó đến cuối năm 2020 chú trọng việc xây dựng nhanh chóng 3 nhà máy xử lý nước thải (dự kiến xử lý đến 80% nước thải sinh hoạt).

Theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới, để nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nước thải tại Việt Nam đặc biệt ở các đô thị, nhà nước ta cần: Xây dựng Chiến lược quốc gia, áp dụng những nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên nước; Phát triển các chính sách và cơ chế phù hợp về tài chính cho lĩnh vực vệ sinh, kể cả đầu tư và vận hành, bảo dưỡng; Xây dựng các chính sách về cải tổ doanh nghiệp trong lĩnh vực vệ sinh; Xây dựng và ban hành các chính sách khuyến khích mô hình đối tác công – tư và sự tham gia của khối tư nhân; Cho phép mềm dẻo trong áp dụng các tiêu chuẩn xử lý nước thải khác nhau, tùy thuộc vào nguồn nước tiếp nhận.

Đối với chính quyền địa phương và các đơn vị cung cấp dịch vụ xử lý nước thải cần: Lập quy hoạch vệ sinh môi trường cho toàn thành phố, lưu vực sông; Hoàn thiện các quy định thể chế và pháp luật ở địa phương; Lựa chọn xây dựng hệ thống xử lý phân tán hay tập trung theo điều kiện của địa phương; Lựa chọn công nghệ xử lý nước thải phù hợp; Đảm bảo thực hiện đấu nối hộ gia đình trong quá trình phát triển hệ thống thoát nước và xử lý nước thải; Lập lộ trình tăng doanh thu và tiến tới thu hồi chi phí; Nâng cao năng lực cho các đơn vị có liên quan ở địa phương; Nâng cao nhận thức của khách hàng sử dụng dịch vụ vệ sinh môi trường./.

Bạn đang đọc bài viết Tình trạng xử lý nước thải ở Việt Nam tại chuyên mục Nghiên cứu – Trao đổi. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0912 345 014 Hoặc email: banbientapmoitruongdothi@gmail.com
Tin cùng chuyên mục Nghiên cứu – Trao đổi