Hà Nội, Thứ Sáu Ngày 18/06/2021

Thực trạng và phương pháp xử lý chất thải của Việt Nam hiện nay

PGS.TS Nguyễn Đức Khiển, 09:25 22/04/2020

Mỗi ngày ở Việt Nam phát sinh khoảng 70.000 tấn rác thải sinh hoạt, trong đó nhiều nhất là TP.HCM với gần 9.000 tấn.

Vấn đề xử lý rác thải sinh hoạt như thế nào đang là vấn đề nhức nhối của nhiều địa phương hiện nay, khi lượng rác thải ngày càng nhiều quỹ đất dành cho việc chôn lấp ở nhiều tỉnh, thành phố ngày càng hạn hẹp nhưng công nghệ xử lý vẫn chưa thể đáp ứng được thực tế.

Tại các khu vực chôn lấp rác khu xử lý chất thải Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội và Khu xử lý chất Xuân Sơn trên địa bàn thị xã Sơn Tây và huyện Ba Vì vẫn còn tình trạng nước rỉ rác, mùi rác và ruồi gây ảnh hưởng đến chất lượng sống của người dân xung quanh. Trong khi đó, tại TP.HCM cũng chẳng mấy khả quan.

Theo GS.TS Nguyễn Hữu Dũng, Viện trưởng Viện Môi trường đô thị và Công nghiệp Việt Nam, trong tổng số 660 bãi chôn lấp có quy mô lớn hơn 1 ha mới có 120 bãi chôn lấp hợp vệ sinh. Chỉ tính riêng Hà Nội có tới 85 - 90% số bãi chôn lấp rác không hợp vệ sinh. Những bãi chôn rác tại các thành phố thường trực nguy có gây ô nhiễm nước và không khí.

Qua điều tra, khảo sát, nhiều bãi chôn lấp, nhà máy xử lý rác thải (XLRT) tại tỉnh, thành phố ở Việt Nam đang trong tình trạng quá tải. Một số bãi chôn lấp rác thải quy mô lớn (từ một đến vài nghìn tấn/ngày) gây ô nhiễm cho cả khu vực rộng lớn với khoảng cách xa tới cả chục km. Nước rỉ rác từ các bãi chôn lấp không được thu gom, xử lý triệt để, kịp thời gây ô nhiễm các nguồn nước mặt, thấm xuống đất gây ô nhiễm đất và nước ngầm. Nhiều nhà máy xử lý rác đang tồn đọng hàng chục nghìn (thậm chí hàng trăm nghìn) tấn rác thải chưa xử lý, được chất đống tại các bãi hở, không có mái che, không có chống thấm nền, không có hệ thống thu gom nước rỉ rác, nước mưa chảy tràn, không có biện pháp xử lý mùi hôi. Đây đang là những nguồn tiềm ẩn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Chỉ tính riêng Hà Nội, có tới 85 - 90% số bãi chôn lấp rác không hợp vệ sinh. Nhiều bãi rác như bãi rác Nam Sơn (Sóc Sơn, Hà Nội) đang trong tình trạng quá tải.

Nguyên nhân tình trạng này, theo các chuyên gia môi trường, không phải là công nghệ xử lí rác mà là quá trình thu gom và xử lý rác chưa triệt để, công tác kiểm tra kiểm soát quy trình xử lý thu gom rác còn buông lỏng. Trong khi đó, công tác quy hoạch những bãi chôn lấp rác cho thành phố vẫn chưa cụ thể rõ ràng.

Công nghệ được coi là một trong những nguyên nhân chính nhưng chưa phải là nguyên nhân quan trọng nhất. Bởi lẽ bên cạnh các bãi chôn lấp rác, các nhà máy XLRT quá tải, gây ô nhiễm môi trường, vẫn có một tỷ lệ nhất định các bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh (một số bãi chôn lấp rác thải hợp vệ sinh tại TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu …), có một tỷ lệ nhất định các nhà máy XLRT làm phân bón hữu cơ vi sinh (tại Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu), nhà máy đốt rác thải kết hợp phát điện (tại TP. Cần Thơ) hoạt động hiệu quả, đạt các quy chuẩn môi trường. Điều này cho thấy, vấn đề lớn nhất, quan trọng nhất mang tính quyết định hiện nay trong XLRT tại Việt Nam không phải kỹ thuật, mà là tài chính. Do đơn giá XLRT quá thấp, nên không đủ hấp dẫn các nhà đầu tư công nghệ cao, đồng thời, cản trở quá trình đầu tư xã hội hóa trong lĩnh vực này.

Theo TS. Hoàng Dương Tùng - nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Môi trường, chôn lấp là biện pháp rẻ tiền nhất, ít tốn kém nhất nên được sử dụng nhiều. Không chỉ ở Việt Nam, hầu hết, các nước đang phát triển vẫn áp dụng mặc dù công nghệ này không giải quyết hoàn toàn bài toán môi trường. Bất cập lớn hiện nay ở những bãi rác sử dụng công nghệ chôn lấp nhưng lại không làm tầng lót đáy tốt dẫn đến hiện tượng nước rác rỉ, gây mùi hôi.

Đồng quan điểm này nhiều chuyên gia cho rằng, trước mắt, chôn lấp rác vẫn là biện pháp phù hợp nhất với điều kiện hiện nay của Việt Nam. Tuy vậy, phải có quy hoạch, chúng ta phải chọn được đúng nơi, xử lí về nền móng, xử lí về vi sinh để đảm bảo vệ sinh và làm thế nào có thể thu được nước thải để xử lí, đó là những vấn đề về kĩ thuật. Phải có sự điều chỉnh ngay cả trong tư duy làm quy hoạch và cách nghĩ đi từ công nghệ mà ra, chứ không phải quy hoạch theo địa điểm theo lối tư duy cũ.

Về công nghệ xử rác thải hiện nay, các công ty Môi trường đô thị vẫn xử lý theo 4 các phương pháp. Cụ thể:

Mục đích của việc xử lý chất thải

Chuyển chất thải sang một dạng khác ít độc hại hơn, dễ kiểm soát hơn, chuyển chất thải thành chất khác có thể sử dụng có ích, giúp giảm thể tích hoặc khối lượng nhằm lưu giữ được nhiều hơn, lưu giữ tạm thời để chờ đợi công nghệ phù hợp.

Tùy theo công nghệ áp dụng, chi phí xử lý sẽ khác nhau. Có công nghệ xử lý với chi phí thấp nhưng trong quá trình xử lý lại phát sinh ra ô nhiễm thứ cấp. Có công nghệ xử lý hiện đại, chi phí vận hành cao nhưng xử lý an toàn, không gây mùi, không phát sinh ô nhiễm thứ cấp. Tuy nhiên, việc quản lý chất thải rắn làm sao cho hiệu quả, hạn chế phát sinh chất thải, tái sử dụng và tái chế chất thải. Trong công tác quản lý chất thải rắn, thứ tự ưu tiên được sắp xếp như sau:

1.Giảm thiểu phát thải
2.Tái sử dụng
3.Tái chế
4.Xử lý
5.Tiêu hủy


Hiện nay, ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, các phương pháp xử lý chất thải rắn thường được áp dụng như sau:

Đối với chất thải rắn sinh hoạt, có thành phần hữu cơ chiếm tỷ lệ lớn được tận dụng để sản xuất phân hữu cơ. Tuy nhiên, do quá trình phân loại rác thực hiện chưa đồng bộ nên chỉ có một phần rác thải sinh hoạt được ủ sinh học, phần còn lại vẫn chôn lấp ở các bãi rác tập trung.

Các thành phần khó phân huỷ sinh học nhưng dễ cháy như giấy vụn, giẻ rách, nhựa, cao su… không còn khả năng tái chế thì có thể áp dụng phương pháp đốt để giảm thể tích. Chất thải xây dựng và các thành phần không cháy được như vỏ ốc, gạch đá, sành sứ… đưa đi san nền hoặc chôn lấp trực tiếp ở bãi chôn lấp.

1. Phương pháp chôn lấp chất thải


Phương pháp chôn lấp thường áp dụng cho đối tượng chất thải rắn là rác thải đô thị không được sử dụng để tái chế, tro xỉ của các lò đốt, chất thải công nghiệp. Phương pháp chôn lấp cũng thường áp dụng để chôn lấp chất thải nguy hại, chất thải phóng xạ ở các bãi chôn lấp có thiết kế đặc biệt cho rác thải nguy hại.

Chôn lấp hợp vệ sinh là một phương pháp kiểm soát sự phân huỷ của các chất rắn khi chúng được chôn nén và phủ lấp bề mặt. Chất thải rắn trong bãi chôn lấp sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phân huỷ sinh học bên trong để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và một số khí như CO2, CH4.

2. Phương pháp tái chế chất thải

Hoạt động tái chế đã có từ lâu ở Việt Nam. Các loại chất thải có thể tái chế như kim loại, đồ nhựa và giấy được các hộ gia đình bán cho những người thu mua đồng nát, sau đó chuyển về các làng nghề. Công nghệ tái chế chất thải tại các làng nghề hầu hết là cũ và lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém, quy mô sản xuất nhỏ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở một số nơi. Một số làng nghề tái chế hiện nay đang gặp nhiều vấn đề môi trường bức xúc như xã Chỉ Đạo (Hưng Yên), xã Minh Khai (Hưng Yên), làng nghề sản xuất giấy xã Dương Ổ (Bắc Ninh)… Nhìn chung, hoạt động tái chế ở Việt Nam không được quản lý một cách có hệ thốngmà chủ yếu do các cơ sở tư nhân thực hiện một cách tự phát.

Các địa phương đang tìm giải pháp công nghệ phù hợp với đặc điểm của rác thải Việt Nam - không phân loại từ đầu nguồn. Ảnh: MH

Rác thải điện tử là một trong những loại rác được tái chế khá nhiều ở Việt Nam. Các máy tính, tivi, đầu máy hỏng thường được bán cho đội ngũ thu gom phế thải (đồng nát, ve chai). Các sản phẩm thải ra này thường được tách ra để thu gom linh kiện, hoặc lấy kim loại và vỏ máy đem bán lại cho các cơ sở tái chế.

Tuy nhiên, điều đáng nói là công nghệ tái chế tại các cơ sở này còn quá lạc hậu. Sau khi các kim loại và linh kiện điện tử còn dùng được được bóc tách và đem bán hoặc sửa chữa, phần còn lại chủ yếu được đốt hoặc nghiền rồi pha thêm hóa chất để tạo ra sản phẩm mới, vốn là các sản phẩm đơn giản như chai lọ, túi nylon với số lượng còn hạn chế.

3. Phương pháp thiêu đốt chất thải

Thiêu đốt là phương pháp phổ biến hiện nay trên thế giới để xử lý chất thải rắn nói chung, đặc biệt là đối với chất thải rắn độc hại công nghiệp, chất thải nguy hại y tế nói riêng. Xử lý khói thải sinh ra từ quá trình thiêu đốt là một vấn đề cần đặc biệt quan tâm. Phụ thuộc vào thành phần khí thải, các phương pháp xử lý phù hợp có thể được áp dụng như phương pháp hoá học (kết tủa, trung hoà, ôxy hoá…), phương pháp hoá lý (hấp thụ, hấp phụ, điện ly), phương pháp cơ học (lọc, lắng)…

Đốt rác thải là giai đoạn xử lý cuối cùng cho một số loại rác không thể xử lý bằng các phương pháp khác

Phương pháp thiêu đốt được sử dụng rộng rãi ở một số nước như Nhật Bản, Đức, Thuỵ Sĩ, Hà Lan, Đan Mạch… là những nước có số lượng đất cho các khu thải rác bị hạn chế.

Xử lý chất thải bằng phương pháp thiêu đốt có ý nghĩa quan trọng là làm giảm bớt tới mức nhỏ nhất chất thải cho khâu xử lý cuối cùng là chôn lấp tro, xỉ. Mặt khác, năng lượng phát sinh trong quá trình thiêu đốt có thể tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc các ngành công nghiệp cần nhiệt và phát điện. Mỗi lò đốt cần phải được trang bị một hệ thống xử lý khí thải, nhằm khống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốt có thể gây ra.

Hiện tại, ở Việt Nam xử lý chất thải rắn nguy hại y tế chủ yếu bằng lò đốt công suất nhỏ được trang bị cho từng bệnh viện. Tuy nhiên, các bệnh viện lớn tuyến trung ương trực thuộc Bộ Y tế có công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải y tế được thực hiện tốt. Các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện, việc xử lý chất thải y tế phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế từng tỉnh. Số bệnh viện tuyến huyện được trang bị lò đốt đạt tiêu chuẩn rất ít. Vì vậy, chất thải y tế thường được đốt bằng lò đốt thủ công hoặc chôn lấp trong khu đất của bệnh viện.

Đối với rác thải nguy hại công nghiệp được xử lý bằng phương pháp đốt thì gần như tuân theo nguyên lý đốt của chất thải y tế nhưng công suất lò lớn hơn. Hiện tại, các khu công nghiệp có đầu tư khu xử lý chất thải rắn nguy hại tập trung không nhiều. Các chất thải rắn nguy hại thường được doanh nghiệp hợp đồng với công ty, đơn vị có chức năng, được cấp giấy phép vận chuyển và xử lý chất thải rắn nguy hại.

4. Phương pháp ủ sinh học

Quá trình ủ sinh học áp dụng đối với chất hữu cơ không độc hại, lúc đầu là khử nước, sau là xử lý cho tới khi nó thành xốp và ẩm. Độ ẩm và nhiệt độ được kiểm soát để giữ cho vật liệu luôn ở trạng thái hiếu khí trong suốt thời gian ủ. Quá trình tự tạo ra nhiệt riêng nhờ quá trình ôxy hoá sinh hoá các chất hữu cơ. Sản phẩm cuối cùng của quá trình phân huỷ là CO2, nước và các hợp chất hữu cơ bền vững như lignin, xenlulo, sợi…

Việc phân loại rác ở TP Hồ Chí Minh sẽ được chia thành 2 nhóm, gồm nhóm có thể tái chế và nhóm chất thải còn lại, việc thu gom cũng sẽ thay đổi để phù hợp thực tế.

Đối với quy mô nhỏ (ví dụ như trang trại chăn nuôi), rác hữu cơ có thể áp dụng công nghệ ủ sinh học theo đống. Đối với quy mô lớn có thể áp dụng công nghệ ủ sinh học theo qui mô công nghiệp. Nhiệt độ, độ ẩm và độ thông khí được kiểm soát chặt chẽ để quá trình ủ là tối ưu.

Xử lý rác thải chỉ có thể giải quyết khi kết hợp giữa công nghệ xử lí rác và phân loại rác tại nguồn và quản lý thu gom vận chuyển rác phải đồng bộ. Để làm được những điều này cần sự hợp tác của người dân thông qua quản lý của chính quyền./.

Bạn đang đọc bài viết Thực trạng và phương pháp xử lý chất thải của Việt Nam hiện nay tại chuyên mục Nghiên cứu – Trao đổi. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0912 345 014 Hoặc email: banbientapmoitruongdothi@gmail.com
Tin cùng chuyên mục Nghiên cứu – Trao đổi